Chương 8
ĐẠO TRI KIẾN THANH TỊNH
( Patipadà- Nanadassana-Visuddhi-Niddesa)
Đến đây, tuệ đạt tới tột đỉnh với tám trí và với trí thuận thứ là thứ chín, những trí nầy gọi là Đạo tri kiến thanh tịnh. Tám trí này được liệt kê như sau: (1) Sinh diệt trí; (2) Diệt trí; (3) Bố úy trí; (4) Quá hoạn trí; (5) Ly dục trí; (6) Dục thoát trí; (7) Tư duy trí; (8) Hành xả trí.
1. Sinh diệt trí: Cái trí quán sự sinh khởi của các hành gọi là quán sinh, cái trí quán sự hoại diệt các hành gọi là quán diệt. Cái trí dùng để quán cả hai chiều sinh và diệt, gọi là Sinh diệt trí.
Bản luận nêu ví dụ về tính chất vô thường, khổ, của các pháp như sau: Ví như khi một cái dĩa rớt xuống đất vỡ toang, thì đó là tính chất của vô thường. Và khi một ung nhọt xuất hiện trên cơ thể ta thì đó là tính chất của
khổ. Nhưng đặc tính của vô ngã thì không rõ rệt. Thế nên, dù chư Phật có xuất hiện hay không, thì các đặc tính vô thường và khổ vẫn được biết đến, nhưng nếu không có chư Phật ra đời thì không có lý vô ngã được công bố.
2. Diệt trí (trí quan tan rã): Cái trí quán về sự hủy diệt của các pháp. Khi hành giả quán vô thường, sẽ từ bỏ được thường tưởng; khi quán khổ, sẽ từ bỏ được lạc tưởng; khi quán vô ngã, sẽ từ bỏ được ngã tưởng... Do vô dục, hành giả từ bỏ sự ham thích. Làm cho tham tàn tạ, hành giả bỏ được tham. Thấy rõ diệt, hành giả bỏ sự sinh; với thái độ xả, hành giả bỏ chấp thủ.
Bằng kinh nghiệm thực tế, hành giả xác định được cái hiện tại và suy diễn cái tương lai: Phạm vi các hành đã tan rã trong quá khứ, sẽ tan ra ở tương lai, cũng như chúng đang tan rã trong hiện tại. Vì thế bản luận nêu ví dụ: Như một người mắt sáng đứng trên bờ sông, dưới cơn mưa lớn, sẽ thấy những bọt nước hiện ra trên mặt sông rồi tan ngay sau đó. Cũng vậy, hành giả luôn luôn thấy các hành tan hoại.
Khi thấy được tính chất tan rã của các hành, hành giả sẽ đạt được tám lợi ích như sau: Bỏ được tà kiến về hữu, bỏ sự bám víu vào đời sống, luôn luôn tinh cần, có mạng sống thanh tịnh, không còn lo âu, không sợ hãi, có được nhẫn nhục và từ ái điều phục được buồn chán và hoan lạc. Đó là tám sự lợi ích của Diệt trí.
3. Bố úy trí: Cái trí thấy được sự đáng sợ của các hành. Khi hành giả tu tập về quán diệt sung mãn, về thấy tính chất của các hành thật khủng khiếp, chúng
chẳng khác gì sư tử, cọp beo, ma quỉ v.v... xuật hiện trước mắt một người nhát gan, khi y muốn sống yên ổn.
Bản luận nêu ví dụ: Như bà mẹ của ba đứa con trai phạm pháp, chúng bị vua ra lịnh hành quyết, bà đang chứng kiến đao phủ chặt đầu đứa lớn, bà biết rằng hai đứa kia cũng bị chặt đầu như thế. Khi thấy như vậy, Bố úy trí sinh khởi nơi bà.
4. Quá hoạn trí (trí quán sự nguy hiểm): Khi tu tập sung mãn trí bố úy, hành giả sẽ thấy không một chỗ nào trong ba cõi là yên ổn.
Ba hữu bấy giờ đối với hành giả giống như những hố than hừng; Bốn đại như rắn độc đáng sợ; Năm uẩn như những kẻ sát nhân đang tuốt kiếm dơ lên; Sáu nội xứ như khu làng trống; Sáu ngoại xứ như kẻ cướp đang xâm nhập vào làng; Bảy thức trú và chín hữu tình cư như khu rừng đang cháy hừng hực; và tất cả các hành như khối khổng lồ, toàn những thứ nguy hiểm không khả ý, không thực chất, như ung nhọt, như bệnh, như mũi tên, như tai họa, như sầu não (M. I, 436). Đó là đặc trưng của Quá hoạn trí.
Thiết tưởng ở đây cũng cần phân biệt giữa trí và tuệ. Trí là nói theo nghĩa cái được biết (sở tri), còn tuệ là hành vi hiểu biết (năng tri).
5. Vô dục trí: Cái trí nhàm chán, không ham muốn đối với các hành. Vì khi thấy các hành là nguy hiểm, hành giả trở nên vô dục đối với tất cả các loại hành thuộc hữu, thú, thức trú, và hữu tình cư. Vị ấy không thõa mãn, không hứng thú trong đó. Ví dụ cũng như con ngỗng vàng yêu mến rừng núi bao la, không thích thú
nơi ao hồ tù túng. Đó, gọi là Vô dục trí.
Ba loại trí Bố úy, quá hoạn, và vô dục, tuy tên gọi khác nhau, nhưng về ý nghĩa chỉ là một.
6. Dục thoát trí: Trí mong muốn giải thoát khỏi các hành. Khi hành giả không còn nương tựa bất cứ loại hành nào nữa, mà mong mỏi giải thoát tất cả hành, thì Dục thoát trí sinh khởi nơi vị ấy. Như con cá đang vướng trong lưới, con chim đang bị nhốt trong lồng v.v..., tất cả chúng đều mong muốn được giải thoát.
7. Tư duy trí: Cái trí tư duy về các hành. Khi tư duy sâu về các hành, hành giả sẽ thấy bốn đặc tính nổi bật của các hành như sau: Các hành là vô thường, vì chúng không liên tục, tạm bợ. Các hành là khổ, vì chúng bị bức bách khó chịu. Các hành là bất tịnh vì chúng không đáng ưa, ghê tởm. Các hành là vô ngã, vì chúng trống rỗng, không có quyền tự chủ.
Ví dụ: Ví như một người giăng để bắt cá nhưng khi thấy lưới thì bị dao động, anh ta đưa tay xuống lưới định bắt cá, thì vớ phải một con rắn. Bấy giờ anh ta hoảng sợ, chỉ mong thoát khỏi sự nguy hiểm đang đe dọa mình. Khi tư duy trí khởi lên, hành giả muốn thoát các hành cũng vậy.
8. Hành xả trí: Cái trí dửng dưng đối với tất cả các hành, gọi là Hành xả trí. Khi hành giả đã phân tích các hành bằng những đặc tính kể trên, sẽ thấy chúng trống rỗng, vô nghĩa, nên không hiếp sợ, cũng không thích thú, mà trở nên dửng dưng, không xem chúng là tôi hay của tôi. Do đó, bản luận nêu ví dụ như một người đã ly dị vợ. Ban đầu người ấy rất yêu thương vợ về nét yêu
kiều khả ái của nàng. Nhưng sau một thời gian sống chung, anh ta thấy rõ những lỗi lầm của người phụ nữ ấy, nên chỉ muốn thoát ly khỏi cô ta, không xem nàng là vật sở hữu của mình nữa.
TAM GIẢI THOÁT MÔN
Ba cửa ngõ hướng đến giải thoát nầy vô tướng, ly dục và không, như bản luận trình bày:
1/. Khi hành giả có đức tin hay quyết tâm lớn, tác ý hành là vô thường, sẽ đạt được Vô tướng giải thoát.
2/. Khi hành giả có năng lực tịnh chỉ vững chắc, tác ý các hành là khổ, sẽ đạt được vô nguyện giải thoát.
3/. Khi hành giả có tuệ trong sáng, tác ý các hành là vô ngã, sẽ đạt được không giải thoát (Ps.2,58)
Danh từ Vô nguyện giải thoát ở đây nên được xem đồng nghĩa với Ly dục giải thoát, tức giải thoát khỏi các dục vọng. Và trong Ly dục giải thoát thì yếu tố định nổi bật, và trong Không giải thoát thì yếu tố tuệ nổi bật.
BẢY HẠNG HIỀN THÁNH
Thông thường các kinh luận liệt kê hiền thánh thành bảy hạng sau đây: (1) Tùy tín hành; (2) Tín giải thoát; (3) Thân chứng; (4) Kiến đáo; (5) Tùy pháp hành; (6) Câu phần giải thoát; (7) Tuệ giải thoát.
(1). Khi hành giả tác ý các hành là vô thường, nhờ đó tín căn tăng thịnh, và đạt được Dự lưu đạo, đó gọi là bậc Tín hành giả, hay Tùy tín hành.
(2). Cũng thế, khi vị ấy tác ý các hành là vô thường, do đó tín căn tăng thịnh, chứng đắc Dự lưu quả, đây gọi
là Tín giải thoát.
(3). Thế rồi, vị ấy chứng ngộ Niết bàn bằng kinh nghiệm bản thân, nên gọi là Thân chứng.
(4). Hơn nữa, vị ấy đạt được Niết bàn nhờ thấy một cách thấu triệt, nên gọi là Kiến đáo ( hay Kiến chí).
(5). Nhưng nếu vị ấy vận dụng trí tuệ, nương theo pháp tu hành thành tựu, thì gọi là Tùy pháp hành.
(6). Thế rồi, vị ấy đạt được giải thoát cả hai phương diện, bằng Thiền vô sắc và bằng Thánh đạo, thì gọi là Câu phần giải thoát.
(7). Đồng thời sự giải thoát ấy đạt được nhờ liễu tri, tức trí tuệ, do đó gọi là Tuệ giải thoát. Đó là khái quát về bảy hạng hiền thánh.
Trên đây vừa trình bày về ba cửa hướng đến giải thoát, và bảy bậc hiền thánh, cả hai phạm trù nầy đều thuộc về Hành xả trí.
Ba loại trí sau cùng trong tám trí kể trên, về nghĩa giống nhau, nhưng tùy theo diễn tiến của nó mà có các tên khác nhau. Lúc đầu, nó có tên Dục thoát trí, ở chặng giữa nó có tên là Tư duy trí và ở chặng cuối, nó được gọi là Hành xả trí.
- Như vậy, ở giai đoạn một, nó là ước muốn giải thoát khỏi sinh, v.v... nơi một người đã ly dục, ước muốn ấy gọi là Dục thoát trí.
- Tiến sang giai đoạn hai, trí tư duy để tìm phương giải thoát, thì gọi là Tư duy trí.
- Bước đến giai đoạn cuối cùng, trí ấy đạt được giải
thoát nhưng không vướng mắc vào những gì đã giải thoát nên gọi là Hành xả trí.
(9). Trí Thuận Thứ. Khi hành giả tu tâp, làm cho sung mãn trí hành xả, thì tín lực vị ấy trở nên quyết định hơn, tấn lực điêu luyện hơn, định lực an trú hơn, tâm định tĩnh hơn, còn hành xả thì tinh tế hơn. Đó là giai đoạn chuẩn bị. Kế đến, một tốc hành tâm thứ hai khởi lên, cũng lấy các hành làm đối tượng như thế, đó gọi là Trí thuận thứ. Trí này cũng có thể gọi là tập hành, chuẩn bị hay cận hành đều được cả.
Đến đây, ta có thể tóm tắt ý nghĩa của 8 trí như sau:
1/. Sinh diệt trí là trí thấy được sự sinh và diệt của những pháp có sinh diệt.
2/. Diệt trí hay hoại trí là trí thấy được sự tan rã của các pháp phải bị tan rã.
3/. Bố úy trí là trí thấy được tính chất đáng sợ của các pháp.
5/. Quá hoạn trí là trí thấy được sự nguy hiểm của những gì được xem là nguy hiểm.
6/. Ly dục trí là trí thấy được tính chất của các hành là khổ, cần phải viễn ly.
7/. Dục thoát trí là trí ước mong giải thoát khỏi những gì cần phải giải thoát.
8/. Tư duy trí là trí suy nghĩ về những gì cần phải suy nghĩ.
9/. Hành xả trí là trí dửng dưng không vướng mắc đối với những gì cần phải xả bỏ.
Ví dụ về 9 trí:
Ví như một ông vua công chánh ngồi ở pháp đình để nghe những lời phán quyết của quan tòa, vừa để trừ khử sự thiên vị, và giữ thái độ vô tư. Nhà vua vừa thuận theo sự phán quyết của họ, vừa theo luật pháp đã quy định. Ở đây trí thuận thứ ví như nhà vua, 8 loại trí ví như 8 quan tòa và 37 phẩm trợ đạo ví như luật pháp của quốc gia.
Chương VIII nầy mô tả về Đạo tri kiến thanh tịnh, đến đây đã trình bày xong.
***