Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 23: Chương 4: Đạo lý duyên khởi (Trang 207 - 220)


Chương 4

ĐẠO LÝ DUYÊN KHỞI

A. ĐỊNH NGHĨA DUYÊN SINH
Đến đây, đạo lý Duyên khởi được trình bày, như Thế Tôn dạy: ” Và nầy các Tỳ kheo, Duyên khởi là gì? Đó là: Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh sách duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên sinh, Sinh duyên Lão, Tử, Sầu, Bi, Khổ, Ưu, Não. Như vây là duyên khởi của toàn bộ khổ uẩn này.” (S II, 1)
Thế nào là Duyên khởi? Vì nó do duyên (paticco) và cùng sinh (samuppàda), nên gọi là Duyên khởi hay Duyên sinh (Paticca-samuppàda). Hoặc, tùy thuộc

(paticca) một sự sinh khởi (uppàda) chân chánh (samma), tùy thuộc vào nguyên nhân một cách chân chánh, gọi là Duyên khởi. Và vì các pháp nầy cần được thấu hiểu. Khi hiểu rõ, chúng sẽ đưa hành giả đến an lạc siêu thế.
Khi đề cập đến ý nghĩa của chữ Duyên, bản luận nêu ra 24 duyên sau đây:  1. Nhân duyên; 2, Sở duyên duyên; 3. Tăng thượng duyên; 4. Vô gián duyên; 5. Đẳng vô gián duyên; 6. Câu sinh duyên; 7. Hỗ tương duyên; 8.  Y chỉ duyên; 9. Thân y duyên; 10. Tiền sinh duyên; 11. Hậu sinh duyên; 12. Tập hành duyên; 13. Nghiệp duyên; 14. Dị thục duyên; 15. Thục duyên; 16. Căn duyên; 17. Thiền duyên; 18. Đạo duyên; 19. Tương ưng duyên; 20. Bất tương ưng duyên; 21. Hưũ duyên; 22. Phi hữu duyên; 23. Ly khứ duyên; 24. Bất ly khứ duyên.

1. Nhân duyên: Là một nhân căn bản làm điều kiện. Kết quả từ nó sinh ra, thì gọi nó là một duyên. Nó giúp cho sự sinh khởi một yếu tố khác, thì gọi nó là duyên. Hoặc, nó là yếu tố khác, thì gọi nó là duyên. Hoặc, nó là yếu căn bản, nến tảng, nên gọi nó là nhân duyên ( điều kiện gốc).
2. Sở duyên duyên: Một tâm sở pháp trợ giúp bằng cách làm đối tượng cho tâm và tâm sở nên gọi là Sở duyên duyên hay Sở duyên.
3. Tăng thượng duyên: Một pháp trợ lực nỗi bậc nhất cho những pháp khác , gọi là Tăng thượng duyên.
4. Vô gián duyên: Một pháp trợ lực bằng cách ở gần kề, gọi là Vô gián duyên.
5. Đẳng vô gián duyên: Một pháp trợ lực bằng cách tiếp nối, gọi là Đẳng vô gián duyên.
6. Câu sinh duyên: Một pháp nào giúp cho pháp khác cùng sinh khởi, gọi là Câu sinh duyên.
7. Hỗ tương duyên: Một pháp giúp cho pháp khác gây thêm thế lực, gọi là Hỗ tương duyên.
8. Y chỉ duyên: Một pháp trợ giúp cho pháp khác làm chỗ nương tựa, gọi là Y chỉ duyên.
9. Thân y duyên: Một pháp trợ lực mạnh mẽ cho pháp kia sinh khởi, gọi là Thân y duyên.
10. Tiền sinh duyên: Một pháp khởi lên trước, làm điều kiện cho pháp khác phát sinh, gọi là Tiền sinh duyên.
11. Hậu sinh duyên: Một pháp nào phát sinh, làm điều kiện củng cố pháp trước, gọi là Hậu sinh duyên.
12. Tập hành duyên: Một pháp trợ giúp cho pháp kế nó có hiệu quả, nhờ lặp đi lặp lại, gọi là Tập hành duyên.
13. Nghiệp duyên: Một pháp trợ giúp cho pháp khác bằng sự chủ động của tâm, gọi là Nghiệp duyên.
14. Dị thục duyên: Một pháp trợ giúp cho pháp khác một cách vô công dụng, gọi là Dị thục duyên.
15. Thục duyên: Bốn loại thức ăn giúp cho các sắc, vô sắc pháp bằng cách củng cố chúng, gọi là Thục duyên.
16. Căn duyên: Ngoại trừ nam căn và nữ căn, 20 căn còn lại25 trợ giúp cho pháp khác tăng trưởng, gọi là Căn duyên.
17. Thiền duyên: Một thiền chi nào trợ giúp cho cái khác tăng trưởng thiện pháp, gọi là Thiền duyên.
___________________
25 Xem chương III, thuộc phần Tuệ.  
18. Đạo duyên: Mười hai đạo chi trợ giúp cho pháp khác tìm ra lối thoát, gọi là Đạo duyên.
19. Tương ưng duyên: Các Vô sắc pháp trợ giúp cho những pháp khác có cùng một căn, trần, khởi, diệt, gọi là Tương ưng duyên.
20. Bất tương ưng duyên: Sắc nào giúp cho vô sắc pháp, hay vô sắc pháp giúp cho sắc pháp mà không cùng một căn trần, gọi là Bất tương ưng duyên.
21. Hữu duyên: Một pháp giúp cho một pháp tương tự khác củng cố thêm sức mạnh, gọi là Hữu duyên.
22. Phi hữu duyên: Tâm và tâm sở vừa chấm dứt trước, là Phi hữu duyên cho những tâm và tâm sở hiện tại.
23. Ly khứ duyên: Cũng chính những tâm pháp ấy, trợ giúp pháp khác bằng cách biến mất, gọi là Ly khứ duyên.
24. Bất ly khứ duyên: Những pháp trợ giúp cho pháp khác bằng cách biến mất, gọi là Bất ly khứ duyên.
Đó là 24 duyên theo bản luận. Thế nhưng, các luận điển của Đại thừa chỉ cô đọng thành bốn duyên: 1/ Nhân duyên; 2/ Đẳng vô gián duyên; 3/ Sở duyên; 4/ Tăng thượng duyên. (Luận Duy thức, Đại trí độ). Bốn duyên này cũng chính là ba duyên đầu và duyên thứ 5 cảu bản luận. Sau đây, đi sâu vào vòng 12 nhân duyên.
Vòng duyên sinh từ dưới lên
1. Già chết: cái gì thuộc chúng sinh bị già yếu, suy nhược,các căn tàn lụi v.v...,gọi là Già. Cái gì thuộc chúng sinh, bị hủy hoại, tiêu mất, các uẩn tàn lụn, thân thể vứt bỏ, đó là Chết. Như vậy, đây là già và chết.
2. Sinh: cái gì thuộc chúng sinh, xuất hiện, sự sinh khởi các uẩn, sự thành tựu các xứ, đó gọi là Sinh.
3. Hữu: gồm có ba thứ, đó là Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu.
4. Thủ: gồm có bốn thứ, đó là Dục thủ, Kiến thủ, Giới cấm thủ và Ngã luận thủ.
5. Ái: gồm có sáu thứ, đó là: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái và pháp ái.
6. Thọ: gồm có sáu thứ, đó là Thọ do nhãn xúc sinh, Thọ do nhĩ xúc sinh, Thọ do tỉ xúc sinh, Thọ do thiệt xúc sinh, Thọ do thân xúc sinh, Thọ do ý xúc sinh.
7. Xúc: gồm có sáu thứ, đó là Nhãn xúc, Nhĩ xúc, Tỉ xúc, Thiệt xúc, Thân xúc và Ý xúc.
8. Sáu xứ ( lục nhập) gồm có sáu thứ, đó là Nhãn xứ, Nhĩ xứ, Tỉ xứ, Thiệt xứ, Thân xứ và Ý xứ.
9. Danh sắc: Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, đó gọi là Danh. Bốn đại chủng và các sắc do bốn đại chủng tạo ra, đó gọi là Sắc. Như vậy, đây là Danh và Sắc.
10. Thức: gồm có sáu thứ, đó là Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỉ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức.
11. Hành: gồm có ba thứ, đó là Thân hành, khẩu hành và ý hành.
12. Vô minh: không biết rõ về khổ diệt, không biết rõ về khổ tập, không biết rõ về khổ diệt, không biết rõ về con đường đưa đến khổ diệt, đó là Vô minh
Trình bày theo sự tập khởi từ trên xuống:
"Như vậy, nầy các Tỳ kheo, Vô minh duyên hành, Hành duyên thức; Thức duyên danh sắc; Danh sắc
duyên sáu xứ; Sáu xứ duyên xúc; Xúc duyên thọ; Thọ duyên ái; Ái duyên thủ; Thủ duyên hữu; Hữu duyên sinh; Sinh duyên Lão tử,sầu,bi,khổ,ưu,não. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Trình bày theo sự đoạn diệt từ trên xuống
Nhưng do sự đoạn diệt, ly khai vô minh hoàn toàn, nên Hành diệt. Do hành diệt, nên Thức diệt. Do thức diệt, nên Danh sắc diệt. Do danh sắc diệt, nên Sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt, nên Xúc diệt. Do xúc diệt nên nên Thọ diệt. Do thọ diệt, nên Ái diệt. Do ái diệt, nên Thủ diệt. Do thủ diệt, nên Hữu diệt. Do hữu diệt, nên Sinh diệt. Do sinh diệt, nên Lão Tử, sầu, bi, khổ, ưu, não, đều diệt. Như vậy là đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn này.”26
Trình bày theo sự sinh khởi từ dưới lên
Đoạn kinh sau đây tuần tự triển khai: ” Do cái gì có mặt, nên già chết có mặt? Do duyên cái gì nên già chết sinh khởi?
- Do Sinh có mặt, nên Già Chết có mặt; do duyên sinh mà già chết sinh khởi.
- Do Hữu có mặt, nên sinh có mặt; do duyên hữu nên sinh sinh khởi.
- Do Thủ có mặt, nên hữu có mặt; do duyên thủ, nên hữu sinh khởi.
- Do Ái có mặt, nên thủ có mặt; do duyên ái, nên thủ sinh khởi.
- Do Thọ có mặt, nên ái có mặt; do duyên thọ nên ái sinh khởi.
_______________
26 Tương Ưng Bộ Kinh II, tr. 3-4.
- Do Xúc có mặt , nên thọ có mặt; do duyên xúc, nên thọ sinh khởi.
- Do Sáu xứ có mặt, nên xúc có mặt; do duyên sáu xứ, nên xúc sinh khởi
- Do Danh sắc có mặt, nên Sáu xứ có mặt; do duyên danh sắc, nên sáu xứ sinh khởi.
- Do Thức có mặt, nên danh sắc có mặt; do duyên thức nên danh sắc sinh khởi.
- Do hành có mặt, nên Thức có mặt; do duyên hành nên thức khởi sinh.
- Do Vô minh có mặt, nên hành có mặt; có duyên vô minh, nên hành sinh khởi”.
Đó là cái vòng 12 nhân duyên về phương diện sinh khởi, khảo sát ngược từ dưới lên.
Khảo sát về phương diện hoàn diệt, cũng từ dưới trở lên
 "Cái gì không có mặt, nên già chết không có mặt? Do cái gì diệt mà già chết diệt?
- Do Sinh không có mặt, nên Già chết không có mặt; do sinh diệt, nên già chết diệt.
- Do Hữu không có mặt, nên sinh không có mặt; do hữu diệt, nên sinh diệt.
- Do Thủ không có mặt, nên hữu không có mặt, do thủ diệt, nên hữu diệt.
- Do Ái không có mặt, nên thủ không có mặt; do ái diệt nên thủ diệt.
- Do Thọ không có mặt, nên ái không có mặt; do thọ diệt nên ái diệt.
- Do Xúc không có mặt, nên thọ không có mặt; do xúc diệt, nên thọ diệt.
- Do Sáu xứ không có mặt, nên xúc không có mặt; do sáu xứ diệt, nên xúc diệt.
- Do Danh sắc không có mặt, nên sáu xứ không có mặt; do danh sắc diệt; nên sáu xứ diệt.
- Do Thức không có mặt, nên danh sắc không có mặt; do thức diệt, nên danh sắc diệt.
- Do Hành không có mặt, nên thức không có mặt; do hành diệt, nên thức diệt.
- Do Vô minh không có mặt, nên hành không có mặt; do vô minh diệt, nên hành diệt.
Như vậy, do Vô minh diệt, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt. Do Thức diệt, nên danh sắc diệt. Do Danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt. Do Sáu xứ diệt, nên xúc diệt. Do Xúc diệt, nên thọ diệt. Do Thọ diệt, nên ái diệt. Do ái diệt, nên thủ diệt. Do Thủ diệt, nên hữu diệt. Do hữu diệt, nên sinh diệt. Do sinh diệt, nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn nầy”27.
Giải thích thêm ý nghĩa quan hệ của các khâu:
Vô minh duyên hành được thiết lập để khỏi thấy có người tạo tác.
Hành duyên thức được thiết lập để khỏi thấy sự luân chuyển của một tự ngã. Thức duyên danh sắc được
_________________________
27 Tương ưng bộ kinh II, tr.6-10.
thiết lập để khỏi có ảo tưởng về sự bền chắc của tự ngã, vì nó phân tích rõ căn đế của tự ngã ảo tưởng. Danh sắc duyên sáu xứ…, được thiết lập để ngăn chận sự thấy cái tự ngã nhìn, nghe, ngửi, nếm, nhận thức, xúc, cảm thọ, khát ái, chấp thủ, trở thành, sinh, già, chết . Vậy, bánh xe sinh tử nầy cần được hiểu là để ngăn ngừa sự nhân thức sai lầm.
Bản luận nêu ví dụ để làm sáng tỏ các khâu trên. Vô minh như người mù, vì không thấy được đặc tính chung và riêng của các pháp. Hành do duyên vô minh ví như sự vấp của anh mù. Thức do hành ví như sự té ngã. Danh sắc do thức, ví như ung nhọt phát sinh. Sáu xứ do danh sắc như máu mủ tụ lại. Xúc do duyên sáu xứ như đánh vào chỗ máu tụ. Thọ như cơn đau do bị đánh . Ái ví như khao khát một liều thuốc. Thủ ví như vớ nhằm thứ thuốc không hợp. Hữu ví như đắp vào vết thương thứ thuốc không hợp ấy. Sinh ví như vết thương thành trầm trọng do xức thuốc bậy. Già chết ví như ung nhọt vỡ ra, sau khi biến đổi.
Bài kệ giải thích đồ biểu số 2:
“Vô minh, Ái, Thủ tam phiền não (hoặc)
Hành, Hữu nhị chi thuộc nghiệp đạo
Tự Thức chí Thọ tinh Sinh Tử
Nhất thiết đồng danh vi khổ đạo”.
 
 
(Vô minh, Ái, Thủ ba phiền não (hoặc)
Hành, Hữu, hai chi thuộc nghiệp đạo
Từ Thức đến Thọ cùng Sinh Tử
Tất cả cùng tên là khổ đạo.)
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »