Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 17: Chương 10: Định - các thần thông (Trang 141 - 148)


Chương 10

ĐỊNH-CÁC THẦN THÔNG


 
1. THẦN TÚC THÔNG
Sau phần mô tả về bốn đại chủng là nói về các loại thần thông. Ở đây, trước hết bàn về Thần túc thông.
Hành giả muốn thực hiện các năng lực thần thông cần phải hoàn tất tám thiền chứng về các đề mục thiến khởi từ đề mục đất và cuối cùng là đề mục màu trắng. Đồng thời vị ấy còn phải tăng sáu pháp hỗ trợ sau đây:
Tăng cường Tín để tâm khỏi dao động.
Tăng cường Tấn để tâm khỏi giải đãi.
Tăng cường Niệm để tâm khỏi lơ đễnh (thất niệm).
Tăng cường Định để tâm khỏi trạo cử.

Tăng cường Tuệ để tâm khỏi mê muội.
Tăng cường Quán chiếu để tâm khỏi bị lung lạc (bởi phiền não).
Đó là sáu pháp hỗ trợ làm cho tâm trở nên bất động.
Ngoài ra, còn có tám pháp khác dùng để yểm trợ thần thông như sau:
(1). Tâm được định tĩnh nhờ định tứ thiền;
(2). Tâm được thuần tịnh nhờ tách rời các triền cái;
(3). Tâm được trong sáng nhờ vượt qua tầm;
(4). Tâm  không lỗi lầm nhờ không có các ác dục;
(5). Tâm được vô nhiễm nhờ các cấu uế biến mất;
(6). Tâm được nhu nhuyến nhờ sự tự chủ;
(7). Tâm dễ sử dụng nhờ quyết tâm;
(8). Tâm vững chắc nhờ sự tu tập đã viên mãn.
Thông thường bản luận chia Thần túc thông thành mười loại, như sau: 1, Thần thông do quyết định; 2. Thần thông bằng biến hóa; 3. Thần thông bằng thân ý sinh; 4. Thần thông bằng sự can thiệp của trí; 5. Thần thông bằng sự can thiệp của định; 6. Thần thông của các thánh giả; 7. Thần thông do nghiệp; 8. Thần thông do công đức; 9. Thần thông do kỹ thuật; 10. Thần thông do nỗ lực đúng. Đó là mười loại thần thông.

1. Thần thông do quyết định: chẳng hạn hành giả quyết định biến một thân mình thành cả trăm, nghìn thân khác.
2. Thần thông do biến hóa: Hành giả từ bỏ hình dáng thông thường và biến thành một cậu bé hay một con rắn.

 
3. Thần thông do thân ý sinh: Hành giả dùng mãnh lực của Tâm tạo ra một thân người theo ý đồ của mình.
4. Thần thông do sự can thiệp của trí: Hành giả vận dụng trí tuệ đoạn trừ các lậu hoặc, đắc A-la-hán quả, đó là thần thông do trí can thiệp.
5. Thần thông do sự can thiệp của định: Như trường hợp tôn giả Xá lợi Phất đang ngồi nhập định ngoài trời vào lúc đêm trăng, bỗng có một các quỉ đến đánh vào đầu tôn giả vang tiếng như sấm nổ, nhưng tôn giả chẳng hề hấn gì cả. Đó là thần thông do định can thiệp.
6. Thần thông của các bậc thánh: Hành giả có tâm thản nhiên đối với những gì đáng ghê tởm mà không ghê tởm, đó là thần thông của thánh giả.
7. Thần thông do quả báo của nghiệp: Như trường hợp chư thiên hay các loài chim bay đi trong không trung, đó là thần thông do nghiệp.
8. Thần thông do công đức: Như trường hợp Chuyển Luân Vương du hành tự tại trong không gian, đó là thần thông do những công đức.
9. Thần thông do kỹ thuật: Như trường hợp những thầy phù thủy dùng bùa chú có thể bay đi trong không trung, đó là thần thông do kỹ thuật.
10. Thần thông do nỗ lực đúng: Như hành giả nỗ lực tu tập mà đạt được giải thoát, hay bất cứ người học nghề gì, do nỗ lực tối đa mà học tập thành nghề; đó là thần thông do nỗ lực đúng đắn.
Trong mười loại thần thông kể trên, chỉ có thần thông do quyết định, do biến hóa và thân ý sinh là thực sự được gọi là thần thông mà thôi.
Bây giờ, để trình bày về những phương diện khác nhau của loại thần túc thông nầy, ở đây, nếu trích dẫn một đoạn kinh văn như sau: “Vị ấy một thân hóa thành nhiều thân, nhiều thân trở thành một thân. Vị ấy hiện ra rồi biến mất, hoặc đi ngang qua tường, qua vách núi, qua những chỗ kín bít không trở ngại như qua hư không. Vị ấy độn thổ rồi trồi lên mặt đất thư thể là ở trong nước; hoặc đi trên nước như đi trên đất. Vị ấy ngồi kiết già mà đi trên hư không như con chim, với bàn tay vị ấy sờ chạm mặt trăng, mặt trời, và những vật có đại oai lực như thế. Vị ấy thực hiện việc làm chủ thân xác cho đến tận Phạm thiên giới”. (D I, 77)
Muốn thực hiện được các phép thần thông như trên đây, hành giả trước hết phải hoàn tất các vấn đề sau: 1. Bốn cấp thiền; 2. Bốn yếu tố căn bản; 3. Tám bước; 4. Mười sáu trợ duyên và; 5. Trí quyết định.
1. Về bốn cấp thiền: Như tôn giả xá lợi phất đã trình bày: “Sơ thiền, cõi phát sinh do viễn ly; Nhị thiền, cõi của hỷ lạc; Tam thiền, cõi của xả và lạc; Tứ thiền, cõi của sự chứng đắc các thần thông”. (D. II. 205)
2. Bốn yếu tố căn bản: Định do dục và sự quyết tâm; Định do tinh tấn và sự quyết tâm; Định do thanh tịnh tự nhiên và sự quyết tâm; Định do trạch pháp và sự quyết tâm.
3. Tám bước: Y chỉ vào dục đạt được định, nhưng dục khác, định khác (bước 1-2); y chỉ vào tinh tấn đạt được định, nhưng tinh tấn khác, định khác (bước 3-4); Y chỉ vào tâm (niệm) đạt được định, nhưng tâm khác,
định khác (bước 5-6); Y chỉ vào trạch pháp đạt được định, nhưng trạch pháp khác, định khác (bước 7-8).
4. Mười sáu trợ duyên: Tâm không chán nản nên không bị giải đãi làm dao động. Tâm không mừng rỡ nên không bị trạo cử làm dao động. Tâm không đam mê thì không bị tham dục làm dao động. Tâm không oán ghét thì không bị ác ý làm dao động. Tâm độc lập thì không bị tà kiến làm dao động. Tâm không dính mắc thì không bị tham lam làm dao động. Tâm giải thoát thì không bị ngũ dục làm dao động. Tâm không trói buộc (vì cấu uế) thì không bị cấu uế làm dao động. Tâm không còn rào ngăn thì không bị rào ngăn cấu uế làm dao động. Tâm không chuyên nhất thì không bị cấu uế sai biệt làm dao động. Tâm tăng cường với tín, thì không bị nghi ngờ làm dao động. Tâm tăng cường bởi tấn, thì không bị uể oải làm dao động. Tâm tăng cường bởi niệm thì không bị lơ đễnh làm dao động. Tâm tăng cường bởi định, thì không bị tán loạn làm dao động. Tâm tăng cường bởi tuệ thì không bị si mê làm dao động, Tâm quán chiếu thì không bị bong tối vô minh làm dao động. Đó là mười sáu trợ duyên đưa đến chứng đắc thần thông (Ps. II, 206).
5. Trí quyết định: Hành giả nhập thiền về phương diện thắng trí và xuất thiền, rồi quyết định như sau: “Ta háy biến ra 100, ta hãy biến ra 100”. Đó là trí quyết định. Có các trường hợp tiêu biểu như sau:
a/ Một thân biến thành nhiều thân: Hành giả muốn thực hiện phép thần thông nay, hay các phép thần thông khác, cần phải vận dụng các pháp trợ duyên đã kể trên,
rồi dùng ý chí quyết định: “Ta hãy biến ra nhiều thân.”, rồi biến ra nhiều thân. Đó là trường hợp tôn giả Cùla-panthaka, như trong luận đã kể. “P. s. II, 207”. Tôn giả vốn tối dạ, học cả bốn tháng trời mà không thuộc một bài kệ, người anh thầy định đuổi thầy ra khỏi tu viện, đức Thế Tôn thương tình, đưa thầy một miếng giẻ bắt thầy lau bụi. Nhưng lau được một ít lâu, miếng giẻ bắt đầu thành màu đen, Thầy nghĩ rằng: “Miếng vải vốn sạch, không có gì quấy ở nó, chỉ có chấp ngã là sai lầm”, nhờ thế thầy đã đắc thiền chứng, và đạt được thần biến, một thân hiện ra nhiều thân.
b/ Phép tang hình- làm cho biến mất: Hành giả muốn thực hiện phép thần biến hình nầy thì phải xuất khỏi thiền căn bản và tác ý như sau: “Ánh sáng nầy hãy trở thành bóng tối”, hoặc “Vật không bị che khuất nầy phải bị che khuất”. Thế là vật ấy sẽ khuất dạng không ai còn trông thấy nữa.
c/ Phép thần thông đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, không bị trở ngại như đi trên hư không: Hành giả muốn thực hiện phép thần biến nầy cần phải đắc thiền về xứ hư không và xuất thiền, rồi tác ý đến bức tường, bức vách như sau: “Hãy hiện ra hư không”, thì nó sẽ trở thành hư không. Tuy nhiên, nếu núi hay vách tường đó bị một vị thần thông tạo ra trước, thì phép thần thông sau không thể hư vô hóa nó được, mà phải đi tránh qua nó.
d/ Phép thần thông độn thổ, rồi trồi lên: Một hành giả muốn thực hiện phép nầy thì phải đắc thiền về biến xứ nước, rồi xuất khỏi thiền ấy, và quyết định rằng:
“Đất đai vùng nầy hãy biến thành nước.” Thế là đất đai vùng ấy đều hóa thành nước, và vị nầy có thể lặn xuống, trồi lên khỏi mặt đất như ở trong nước. Nhưng chỉ có vị nầy làm được thế, còn những người khác vẫn phải đi bộ trên đất ấy, vì đất vẫn nguyên trạng là đất.
e/ Phép thân thông làm cho nước đông cứng: Hành giả muốn thực hiện phép thần biến nầy cần phải đắc thiền biến về đất , rồi xuất thiền, và quyết định: “Nước ở tại chỗ nầy hãy biến thành đất”, thế là nước biến thành đất, và vị nầy có thể đi trên đó. Hơn nữa, vị nầy còn có thể biến nước ra ngọc, vàng, cây, đá v.v…, nếu vị nầy muốn.
f/ Phép thần thông bay trên hư không: Hành giả muốn thực hiện phép nầy cần phải đắc thiền về biến xứ đất, rồi quyết định: “Hãy có đất”, thế là đất hiện ra, và vị nầy có thể du hành trên ấy, nhưng vị nầy phải là người đã đắc thiên nhãn, để có thể tránh được những chướng ngại vật như núi, cây v.v…, trên đường đi.
g/ Phép thần thông dùng bàn tay rờ mặt trăng, mặt trời: Phép thần biến nầy thực hiện được nhờ đắc thiền và tâm tự lại, chứ không cần phải đắc thiền bằng một biến xứ nào đặc biệt. Vị nầy tác ý đến mặt trời, mặt trăng, và quyết định với trí: “Nó hãy ở trong tầm tay ta”, thế là mặt trăng, mặt trời nằm ngay trong tầm tay, và vị nầy có thể dùng tay sờ mặt trăng, mặt trời.
h/ Phép thần thông nhỏ biến thành lớn, lớn biến thành nhỏ: Con độc long Nandopananda ỷ mình có thần thông đã biến thành vật khổng lồ nằm trong khoanh núi Tu Di 14 vòng, rồi tung bụi mù mịt để gây trở gại cho đoàn du
hành có đức Phật và Thánh chúng. Do đó Phật đã bảo tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần lực hàng phục nó. Cuối cùng, nó đã bị chinh phục, và xin quy y Phật.
i/ Phép thần thông rút hay tăng đường đất-làm cho xa trở thành gần hay gần thành xa: Hành giả muốn thực hiện phép nầy cần phải là người đã làm chủ được thân xác, và nếu muốn đi trên cõi Phạm thiên, liền quyết định: “Cõi Phạm thiên hãy đến gần đây”, thế là nó đến gần. Hoặc đối với một chỗ rất gần nếu muốn nó xa, liền quyết định: “Chỗ này hãy cách xa ra”, thế là chỗ ấy cách xa đến một mức độ mà hành giả muốn.
k/ Phép thần thông biến ít thành nhiều: Tôn giả Mục Kiền Liên đã thực hiện phép nầy như kinh Bổn Sinh đã kể (Ja. I, 348). Có khi, đức Thế Tôn cũng từng biến một tô cháo, đủ cho cả trăm chúng dùng một bữa no nê.
Ngoài ra, còn có các phép thần thông như biến nặng thành nhẹ, biến nhẹ thành nặng, hoặc biến mình thành một con voi hay một em bé, như trường hợp Đề Bà Đạt Đa đã làm (Vin. II, 185).
Chương X nầy bàn về Thần túc thông, đến đây là kết thúc.
***
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »