Chương 11
ĐỊNH- CÁC THẦN THÔNG
(tiếp theo)
THIÊN NHĨ THÔNG
Bây giờ đến việc mô tả về Thiên nhĩ thông, ta có thể dẫn đoạn kinh sau đây là căn cứ: “Vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Thiên nhĩ thông. Với Thiên nhĩ thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy nghe cả hai loại âm thanh, âm thanh của Chư thiên và âm thanh của loài người, xa cũng như gần.” (D. I, 79)
Thiên nhĩ thông: tức là tai như của chư Thiên vì chư Thiên có khả năng nghe được đối tượng âm thanh dù cách rất xa, do họ đã giải thoát khỏi các cấu uế.
Thuần tịnh: Thiên nhĩ nầy hoàn toàn trong sạch, không có cấu uế.
Siêu nhân: vượt khỏi phạm vi của loài người.
Hành giả muốn thực hiện phép thần thông nầy cần
phải đạt được thiền chứng căn bản về thắng trí, rồi xuất định và tác ý đến các âm thanh thô ở xa mà tầm tai có thể nghe được, như tiếng chuông, tiếng trống trong tu viện, hay tiếng sư tử trong rừng sâu. Thế rồi, vị ấy tuần tự tác ý đến những loại âm thanh vi tế, xa xôi ở bốn phương trời. Bấy giờ diễn tiến bốn hoặc năm tốc hành tâm xảy ra. Ba hay bốn tâm đầu là giai đoạn chuẩn bị gồm có tâm chuẩn bị, tâm cận hành, tâm thuận thứ, và tâm chuyển tánh thuộc dục giới, còn tâm thứ thứ năm là tâm an chỉ thuộc thiền thứ tư ở Sắc giới. Hành giả định giới hạn từ một tu viện, đến một khu làng, dần dần đến cả thế giới hay xa hơn nữa, tất cả âm thanh trong phạm vi ấy đều nghe được, nếu hành giả tác ý đến nó. Đây là cách hành giả nới rộng tâm thiên nhĩ từng phạm vi.
THA TÂM THÔNG
Giải thích về Tha tâm thông, kinh văn viết như sau: “ Vị ấy dẫn tâm, hướng Tâm đến Tha tâm thông. Vị ấy dùng tâm của mình thâm nhập vào tâm của các chúng sinh khác, và hiểu chúng như sau:
1. Tâm có tham biết là tâm có tham;
2. Tâm không tham biết là tâm không tham;
3. Tâm có sân biết là tâm có sân;
4. Tâm không sân biết là tâm không sân;
5. Tâm có si biết là tâm có si;
6. Tâm không có si biết là tâm không có si;
7.Tâm chật hẹp biết là tâm chật hẹp;
8. Tâm tán loạn biết là tâm tán loạn;
9.Tâm đại hành biết là tâm đại hành;
(10)Tâm không đại hành biết là tâm không đại hành;
(11) Tâm hữu thượng biết là tâm hữu thượng;
(12) Tâm vô thượng biết là tâm vô thượng;
(13) Tâm định tĩnh biết là tâm định tĩnh;
(14) Tâm không định tĩnh biết là tâm không định tĩnh;
(15) Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát;
(16) Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát.” (D.I,79).
Đó là mười sáu loại tâm thông thường của các chúng sinh.
Tha tâm thông nầy sinh khởi được là nhờ có sự trợ giúp của Thiên nhãn thông, và có thể thấy được màu máu trong tim của các chúng sinh đang hiện hữu. Nếu tâm của chúng sinh đó đang hoan hỷ, thì máu có màu đỏ; nếu tâm đang ưu sầu thò máu có màu hơi đen; nếu tâm an tịnh, thì máu có màu như dầu mè. Do quan sát như vậy mà thấy rõ tâm trạng của chúng sinh.
Chỉ khi Tha tâm thông được củng cố như thế, tâm hành giả mới dần dần biết được tâm trạng của chúng sinh ở cõi Sắc và Vô sắc mà không cần phải xem máu trong tim nữa.
Ở đoạn văn trích dẫn có mấy từ sau đây cần phải giải thích:
Tâm đại hành là tâm thuộc phạm vi Sắc giới và Vô sắc giới.
Tâm không đại hành tức ngược lại tâm trên.
Tâm hữu thượng là tâm thuộc về ba cõi.
Tâm vô thượng là tâm siêu thế- vượt ngoài ba cõi.
Tâm định tĩnh là tâm đạt được định cận hành và định an chỉ.
Tâm không định tĩnh là tâm không đạt cả hai.
Tâm giải thoát là tâm đạt đến một trong năm thứ giải thoát sau: Giải thoát bằng sự thay thế pháp đối lập (nhờ tuệ quán); giải thoát nhờ sự đàn áp các pháp chướng ngại (nhờ định); giải thoát bằng sự đoạn trừ các chướng ngại (nhờ đạo lộ); giải thoát bằng sự an tịnh (nhờ quả chứng); giải thoát bằng sự từ bỏ (nhờ đạt được Niết bàn).
Tâm không giải thoát là tâm chưa đạt được bất cứ giải thoát nào trong 5 loại trên.
TÚC MẠNG THÔNG
Để giải thích về Túc mạng thông, kinh văn viết: “Vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng thông, nhớ đến nhiều đời trước của mình, đó là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, 10 đời, 20 đời, 30 đời, 40 đời, 50 đời, 100 đời, 1000 đời, 100. 000 đời, nhiều hoại kiếp và thành kiếp. Vị ấy nhớ tại chỗ kia ta có tên như thế, chủng tộc như thế, tướng mạo như thế, đồ ăn như thế, thọ khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ, tại đây, ta có tên như thế, chủng tộc như thế, ăn uống như thế, tuổi thọ như thế. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sinh ra ở đây. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, cùng vói các nét đại cương và chi tiết”. (D.I.81)
Túc mạng thông hay Túc mạng trí là cái trí nhớ lại những đời quá khứ. Trong trường hợp nhớ lại các đấng Giác ngộ trong quá khứ đã cắt đứt dòng luân hồi, thì chỉ có các đấng Giác ngộ mới làm được.
Có sáu hạng người nhớ đời quá khứ, đó là: Ngoại đạo; đệ tử thường; đệ tử trẻ xuất sắc; đại đệ tử; Độc giác; Phật.
(1). Ngoại đạo chỉ nhớ 40 kiếp về trước, không thể xa hơn nữa, vì trí tuệ họ yếu ớt.
(2). Những đệ tử thường nhớ đến 100 kiếp hay 1000 kiếp; vì trí tuệ họ mãnh liệt.
(3). Hạng đệ tử trẻ xuất sắc cũng thế.
(4). Nhưng các đại đệ tử nhớ đến trăm nghìn kiếp hay một vô số về kiếp trước
(5). Các bậc Độc giác nhớ được trăm nghìn kiếp và hai vô số kiếp về trước.
(6). Còn với chư Phật thì trí nhớ không có giới hạn.
Bản luận nêu ví dụ: Cái thấy của ngoại đạo như lửa đom đóm. Cái thấy của phàm phu như ánh đèn cầy. Cái thấy của đệ tử xuất sắc như bó đuốc. Cái thấy của đại đệ tử như sao mai. Của Độc giác như mặt trăng. Của chư Phật như muôn ngàn tia sáng mặt trời vào mùa thu quang đãng.
Một Tỳ kheo mới tu tập muốn nhớ lại đời sống quá khứ theo cách trên, cần phải đi vào độc cư, tuần tự nhập bốn thiền và xuất thiền thứ tư thuộc căn bản thắng trí. Rồi vị ấy hướng tâm đến hành vi gần nhất của mình như lúc mới ngồi xuống, và đi ngược về quá khứ như các
việc làm hôm qua, tháng trước, năm trước, v.v… cho đến một đời, nhiều đời, hoại kiếp và thành kiếp, với những nét đại cương và chi tiết.
Tam tai của kiếp hoại: Về hoại kiếp có ba loại tai nạn là hỏa tai, thủy tai, và phong tai. Đó là tam tai. Ba loại tai họa nầy lần lượt xuất hiện để hủy diệt thế giới.
Đầu tiên là hỏa tai nổi lên, từ một mặt trời lần lần đến hai mặt trời xuất hiện rồi đến bảy mặt trời xuất hiện cùng lúc, thiêu hủy thế giới đến hết cõi Sơ thiền, và dừng lại ở Nhị thiền.
Thế rồi thủy tai nổi lên phá hủy đến cõi Nhị thiền và dừng lại ở Tam thiền.
Sau đó phong tai xuất hiện, phá hủy hết cõi Tam thiền và dừng lại ở Tứ thiền. Thoạt tiên liên tiếp khởi bảy trận hỏa tai, tiếp theo có một trận thủy tai nổi lên. Thủy tai nầy lập lại tới bảy lần thì đến trận phong tai. 21
Ở đây thiết tưởng nên giảng rõ chữ kiếp để làm sáng tỏ vấn đề trên. Kiếp ( kalpa) gồm có ba loại: Tiểu kiếp, trung kiếp và đại kiếp.
Tiểu kiếp: Lấy đời sống của nhân loại ở mức độ 10 tuổi mà khởi sự, cứ qua 100 năm thì thì đời sống thêm một tuổi, cho đến lúc đời sống con người đượ 84000 năm; đó là kiếp tăng. Rồi bắt đầu con người từ 84000 tuổi, cứ qua 100 năm thì đời sống giảm một tuổi cho đến lúc đời sống con chỉ còn 10 tuổi; đó là kiếp giảm. Một lần kiếp tăng và một lần kiếp giảm như vậy được kể là một Tiểu kiếp, gồm có 16.800.000 năm.
____________________
21 Luận câu xá q.12.
Trung kiếp: Lần lượt đu 20 tiểu kiếp được kể là một trung kiếp, gồm có (16.800.000x20=) 336.000.000 năm.
Đại kiếp có bốn trung kiếp. Trải qua Trung kiếp thứ nhất gọi là thành kiếp; trải qua trung kiếp thứ nhì gọi là trụ kiếp; trải qua trung kiếp thứ ba gọi là hoại kiếp; trải qua trung kiếp thứ tư gọi là Không kiếp. Như vậy, một Đại kiếp gồm có bốn giai đoạn là: thành , trụ, hoại và không, và thời gian là ( 336.000.000 x 4 =) 1.344.000.000 năm22.
Thành kiếp: Sau một thời gian dài, đất bắt đầu xuất hiện. Nó có màu sắc và mùi vị như lớp ván trên mặt nồi cơm vừa cạn. Rồi những chúng sinh ở cõi trời Quang Âm, do hết phước và mạng chung, liền sinh đến đó. Chúng tự phát sáng, và du hành trong hư không. Thế rồi, nghe mùi đất thơm hấp dẫn, chúng nếm thử và thấy thích thú, nên ăn chất đất ấy càng lúc càng nhiều, do đó, ánh sáng của chúng tan biến. Vì vậy mặt trời xuất hiện; sau đó mặt trăng và tinh tú xuất hiện. Từ đó hình thành thời gian, ngày đêm, tháng năm và thời tiết. Kế đến là núi non, sông biển và ngũ cốc xuất hiện.
Những chúng sinh sử dụng chất đất đầu tiên ấy, dần dần một số trở nên đẹp đẽ, một số xấu xi. Người đẹp khinh bỉ người xấu, do đó, chất đất tinh túy kia biến mất, và từ đất mọc lên một thứ cỏ, cây leo, lúa không có trấu cám. Rồi một ngọn lửa tự nhiên nấu chín lúa ấy thành cơm, có mùi thơm ngon, và chúng sinh dùng thứ cơm ấy. Do đó, nước tiểu và phân xuất hiện, dần dần nam căn và nữ căn xuất hiện. Vì có hình thức nam nữ khác nhau nên
____________________
22Phật học từ điển, mục từ Kiếp
nam giới nghĩ tưởng nữ giới, nữ giới nghĩ tưởng nam giới. Do khoảng thời gian dài nghĩ tưởng về nhau, nên cơn sốt nhục dục sinh khởi, vì thế chúng bắt đầu hành lạc. Thấy cảnh hành lạc công khai chướng mắt, nên những người trí chỉ trích và trừng phạt những kẻ ấy. Từ đó, chúng bắt đầu xây nhà với mục đích che đậy việc xấu kia, đồng thời dùng làm chỗ cất chứa thức ăn. Bấy giờ lúa sinh ra cám và trấu, và chúng phải đi lấy phần hằng ngày để về dùng. Do vậy chúng dựng lên ranh giới để chia phần cho mỗi cá thể. Tuy thế có người tham lam lấy phần của người khác, vì vậy mà thành ra có sự ăn trộm. Do có sự trộm cắp , chúng bèn hội nhau lại, bầu ra một người lãnh tụ để giữ vai trò thưởng phạt, ổn định trật tự. Người đầu tiên được mọi người bầu làm lãnh tụ trong kiếp này chính là Đức Thế Tôn. Vì ngài được tất cả mọi người trên thế gian nầy tín nhiệm, tôn kính, nên có danh hiệu là Thế Tôn. Ngài cũng có danh hiệu là điền chủ (khetta), lại được gọi là Sát đế lợi (Khettiya), tức giai cấp chiến sĩ cao quí. Ngài đem lại lợi ích cho mọi người một cách chính trực và công bằng, nên Ngài được gọi là một vị vua (Ràjà). Sau đó Bà-la-môn và những giai cấp khác được tuần tự thành lập. (D.III.85)
THIÊN NHÃN THÔNG
Giải thích về Thiên nhãn thông này, kinh văn viết: “ vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí biết về sự chết và tái sinh của chúng sinh. Với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, vị ấy thấy chúng sinh chết và sinh trở lại, chịu số phận hạ liệt hay cao sang, đẹp hay xấu, hạnh phúc hay
bất hạnh; vị ấy biết hữu tình đi theo hạnh nghiệp của chúng sinh nầy tạo ác nghiệp về thân, về lời về ý, phỉ bang các bậc Thánh, có tà kiến, tạo những nghiệp theo tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, đã sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục v.v… Còn những tôn giả chúng sinh nầy, tạo những thiện nghiệp về thân, về lời và về ý, không phỉ bang các bậc Thánh, có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung ssax sinh vào một thiện thú, thiên giới. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân vị ấy thấy chúng sinh chết và tái sinh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng”. (D.I,82)
Thiên nhãn: mắt của chư thiên. Vì nhãn quang của chư thiên rất bén nhạy, do thiện nghiệp phát sinh, nên có thể trông thấy một đối tượng rất xa. Một tỳ kheo do tinh tấn tu hành, trong tâm trí cũng phát sinh một thứ nhãn quang kỳ diệu như thế, nên gọi là Thiên nhãn.
Hạ liệt: Bị khinh bỉ, sỉ miệt thị v.v… Vì chủng tộc thấp hèn; do quả báo của si.
Cao sang: Ngược lại hạ liệt, do quả báo không si.
Đẹp: Có bề ngoài dễ coi, khả ái, do quả báo của vô sân.
Xấu: Có một bề ngoài khó ưa, khả ố, do quả báo của sân.
May mắn: Đi đến một thiện thú, hoặc nơi giàu sang, do quả báo không tham.
Bất hạnh: Đi đến một các thú, hoặc nơi nghèo hèn, do quả báo của tham lam.
Hủy bang các bậc thánh: Các bậc thánh gồm có Phật, Độc giác, các đệ tử Thanh văn, hoặc những gia chủ đã chứng Dự lưu quả. Hủy báng có hai cách: hoặc là Xúc phạm, khinh miệt họ; hoặc là phủ nhận những công đức phẩm hạnh của họ. Những ai đã hủy báng các vị ấy bằng một trong hai cách thì phải sáng hối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với họ. Nếu không sám hối thì đạo lộ tu hành sẽ bị chướng ngại.
Cõi dữ: Đồn nghĩa với địa ngục.
Địa ngục: Là cảnh giới đau cùng cực, đáng ghê sợ nhất.
Ác thú: Là chỗ trú ẩn của những đau khổ.
Đọa xứ: Nơi những người phạm tà hạnh rơi vào đó. Thông thường cõi dữ chỉ cho cảnh giới của loài súc sinh; ác thú là cảnh giới của ngạ quỉ; đọa xứ là cảnh giới của A-tu-la, nhưng cảnh giới nầy cũng có nghĩa là cõi dữ và ác thú.
Thiện thú: Chỉ cho cảnh giới của nhân loại, còn cảnh giới của chư thiên thì thường gọi là cõi trời.
Một hành giả muốn thực hiện phép Thiên nhãn thông cần phải tu tập thành tựu ba biến xứ: biến xứ lửa, biến xứ màu trắng và biến xứ ánh sáng. Nhưng biến xứ ánh sáng là tốt nhất.
TỔNG QUÁT:
Về loại Thần túc thông ( đã trình bày ở chương X) liên hệ đến bảy thứ đối tượng: đối tượng hữu hạn; đối
tượng đại hành (cao cả); đối tượng quá khứ; đối tượng hiện tại; đối tượng vị lai; đối tượng bên trong; đối tượng bên ngoài.
(1). Hữu hạn: nghĩa là thuộc lãnh vực Dục giới.
(2). Đại hành thuộc lãnh vực Sắc giới và Vô sắc giới.
(3). Bên trong là ngay trong thân mình.
(4). Bên ngoài là ở ngoài thân mình.
(5). Quá khứ: khi dùng cái tâm đã qua làm đối tượng, nó có một đối tượng quá khứ.
(6). Vị lai: Khi dùng tâm quyết định những việc vị lai, nó có một đối tượng vị lai.
(7). Hiện tại: Vào lúc đi với một thân thể vô hình sau khi làm cho thân thể phụ thuộc vào tâm ý, no có một đối tượng hiện tại.
Về loại Thiên nhĩ thông gồm có bốn đối tượng: đối tượng hữu hạn; đối tượng hiện tại; đối tượng bên trong và đối tượng bên ngoài.
- Vì nó lấy âm thanh làm đối tượng, mà âm thanh thì có giới hạn, nên nó có một đối tượng hữu hạn.
- Vì nó phát sinh từ những âm thanh đang hiện hữu, nên nó có một đối tượng hiện tại.
- Vào những lúc nghe âm thanh trong bụng, nó có một đối tượng bên trong.
- Vào những lúc nghe âm thanh của người khác, nó có một đối tượng bên ngoài.
Về Tha tâm thông gồm có tám đối tượng: đối tượng hữu hạn; đại hành; vô lượng; đạo lộ; quá khứ; hiện tại;
vị lai; bên ngoài. Vào lúc biết đạo và quả, nó có một đối tượng vô lượng. Vì một người thường (phàm phu) không thể biết được tâm của một bậc Dự lưu; một bậc Dự lưu không thể biết được tâm của một bậc Dự lưu; một bậc Dự lưu không thể biết được tâm của một bậc Nhất lai; và cứ thế lên đến A-la-hán. Còn A-la-hán thì biết được tâm của tất cả. Vào lúc trí lấy tâm của một đạo lộ làm đối tượng nó có một đối tượng đạo lộ.
Về Túc mạng thông gồm có tám đối tượng: hữu hạn; đại hành; vô lượng; đạo lộ; quá khứ; bên trong; bên ngoài; không thể phân loại. Vào lúc nhớ lại các khái niệm như danh, tánh, trong quá khứ thì trí ấy có một đối tượng không thể phân loại. Ngoài ra những từ khác như đã giải thích ở trên.
Về Thiên nhãn thông, luận chủ chia thành ba loại trí: trí biết sự chết và tái sinh; trí biết vị lai; trí biết sở hành tùy theo nghiệp.
Trí biết sự chết và tái sinh gồm có bốn đối tượng: hữu hạn; hiện tại; bên trong; bên ngoài.
Trí biết vị lai tương ứng với tám đối tượng: hữu hạn; đại hành; vô lượng; đạo lộ; vị lai; bên trong; bên ngoài; không thể xếp loại.
Trí biết sở hành tùy theo nghiệp tương ứng với năm đối tượng: hữu hạn; đại hành; quá khứ; bên trong; bên ngoài. Về ý nghĩa các từ, xem những giải thích ở trên.
Theo quan điểm của luận chủ các loại thần thông-đôi khi còn gọi là thắng trí hay năng lực siêu nhân-chỉ gồm có năm thứ: Thần túc thông; Thiên nhĩ thông; Tha tâm thông; Túc mạng; Thiên nhãn thông. Nhưng
thông thường kinh điển thêm một loại nữa là Lậu tận thông, thành ra sáu loại, và được gọi là lục thông.
Ba loại đầu thường gọi là thông, nhưng ba loại sau còn gọi là minh hay trí như: Túc mạng minh hay Túc mạng trí; Thiên nhãn minh hay Thiên nhãn trí; Lậu tận minh hay Lậu tận trí.
Đến đây, bản luận kết thúc phần thứ hai trình bày về Định, và chuyển sang phần thứu ba trình bày về Tuệ.
***