Chương 5
ĐỊNH –SÁU TÙY NIỆM
Thông thường, pháp Tùy niệm gồm có sáu thứ, nhưng nếu nói đủ thì có mười tùy niệm, đó là: Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng, Niệm Giới, Niệm Thí, Niệm Thiên, Niệm Tử, Niệm Thân, Niệm Tức, Niệm Diệt.
1. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ đấng giác ngộ, gọi là Niệm Phật.
2. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ pháp, gọi là Niệm Pháp.
3. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ tăng, gọi là Niệm Tăng.
4. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ giới, gọi là Niệm Giới.
5. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ bố thí, gọi là Niệm Thí.
6. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ cái chết, gọi là Niệm Tử.
7. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ chư thiên, gọi là Niệm Thiên.
8. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ thân thể, gọi là Niệm Thân hay thân hành niệm.
9. Tùy niệm bắt nguồn từ hơi thở ra vào, gọi là Niệm Tức, hay niệm hơi thở (anàpanàsati).
10. Tùy niệm khởi lên có cảm hứng từ sự bình an, gọi là Niệm Diệt.
1. NIỆM PHẬT
Một thiền giả muốn tu tập tùy niệm về đấng Giác ngộ, thì nên đọc cư tại một tú xứ thích hợp, và tưởng niệm những đức tính đặc biệt của đáng Giác ngộ như sau: “Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, đấng Thiện thệ, đấng hiểu rõ thế giang, bậc Vô thượng Đạo sư điều phục những người đáng điều phục, bậc thầy của chư thiên và loài người, Phật, Thế Tôn. (M.I. 37; A.III. 285)
Sau đây sẽ tuần tự trình bày những đức hiệu kể trên của Đấng Giác Ngộ.
a. A La Hán ( Arahanta)
Trước tiên hành giả niệm về những đức tính của bậc A-la-hán:
- Ngài lá bậc hoàn toàn tách rời khởi mọi cấu uế.
- bNgài đã tiêu diệt tất cả mọi kẻ thù (tức là những nhiễm ô).
- Ngài đã phá hủy hoàn toàn những bánh xe luân hồi được làm bằng vô minh và khát ái.
- Ngài xứng đáng nhận những đồ cúng đường của cõi trời và cõi người.
- Ngài không có các hành vi mờ ám như những kẻ ngu ở đời, tự khoe thông minh nhưng lại làm ác. Vì thế, nên Ngài được gọi là A-la-hán:
|
|
|
|
|
“Bậc Thánh xa uế nhiễm
Chiến thắng giặc não phiền
Các căm xe phá hủy
Xứng đáng được cúng đường
Không ác hành bí mật
Vì năm lý do nầy
Ngài có thể tuyên bố
Thành bậc A-la-hán.”
|
|
b. Chánh Đẳng Giác (Sammàsambuddha)
Ngài là bậc Chánh đẳng giác, vì Ngài đã biết mọi sự vật một cách chân chính (sammà). Nghĩa là Ngài thấu triệt bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt và Đạo:
- Cái gì cần thắng trí đã được thắng trí (tức Khổ đế).
- Cái gì cần tu tập đã được tu tập (tức Đạo đế).
- Cái gì cần được từ bỏ đã được từ bỏ (tức Tập đế).
- Cái gì cần chứng đắc đã được chứng đắc (tức Diệt đế). Cho nên Ngài xứng danh là bậc Giác Ngộ. (Sn. 558)
c. Minh hạnh túc (Vijjàcaranasampanno)
Ngài có đủ minh trí và giới hạnh:
Ở đây, minh trí là chỉ cho ba minh: Thiên nhãn minh, Túc mạng minh và Lậu tận minh.
Còn Hạnh chỉ cho mười lăm đức tính: Phòng hộ bằng giới; gìn giữ các căn môn; biết vừa đủ trong sự ăn uống; Chánh niệm tỉnh giác; có bảy thiện pháp (tín, tàm, quí, đa văn, tấn, niệm, tuệ) và bốn thiền thuộc Sắc giới.
d. Thiền Tuệ (Sugatà)
Ngài được gọi là đấng Thiện Thệ vì Ngài có bốn yếu tố: Cách đi tốt đẹp; đã đi đến một nơi tốt đẹp; đã đi một cách đúng pháp; và đã tuyên bố đúng.
- Cách tốt đẹp là đi theo con đường Thánh đạo tám ngành.
- Đã đến một nơi tốt đẹp là đã đến Niết bàn bất tử.
- Đã đi một cách đúng pháp tức là Ngài không thiên về cực đoan nào trong hai cực đoan là thường kiến và đoạn kiến, không theo hướng đam mê dục lạc, cũng không theo hướng ép xác khổ hạnh.
Ngài đã tuyên bố đúng, tức là Ngài chỉ nói những lời thích đáng, như đoạn kinh sau đây mô tả: “Bất cứ lời nào đức Như Lai biết là không thật, không đúng, đưa đến tai hại, làm người khác buồn khổ không thích ý, Như Lai không nói lời ấy. Bất cứ lời nói nào Như Lai biết là không thật, không đúng, đưa đến tai hại, nhưng dễ nghe và người khác ưa thích, Như Lai không nói lời ấy. Bất cứ lời nào Như Lai biết là thật và đúng , nhưng đưa đến tai hại, làm cho kẻ khác buồn khổ không thích, Như Lai không nói lời ấy. Bất cứ lời nói nào Như Lai biết là thật và đúng, đưa đến lợi ích, nhưng khó nghe và làm
cho người khác không thích, Như Lai biết thời để nói lời ấy. Bất cứ lời nói nào Như Lai biết là thật và đúng nhưng có hại, thì mặc dù vui tai và làm kẻ khác ưa thích, Như Lai không nói lời ấy. Lời nói nào Như Lai biết là thật và đúng, đưa đến lợi ích, dễ nghe, làm kẻ khác ưa thích, Như Lai biết thời để nói lên lời ấy. (M. I, 395). Do vậy, Ngài là bậc Thiện Thuệ, vì tuyên bố chính đáng.
đ.Thế gian giải
Ngài là đấng biết rõ thế gian, vì Ngài biết cuộc đời trên mọi phương diện, đã thâm nhập thế gian về mọi mặt, như kinh nói: “Nầy hành giả, có một chỗ tận cùng thế giới, ở đây người ta không sinh, không già, không chết, không tái sinh, có thể được biết, được thấy hay đi đến bằng du lịch, điều ấy Ta không tuyên bố. Tuy nhiên, Ta cũng không nói rằng có sự chấp dứt khổ mà không cần đi đến tận cùng của thế giới. Đúng hơn trong cái thân xác nhỏ bé nầy, với các tưởng, các thức của nó,mà Ta công bố có thế giới, sự sinh khởi của thế giới, sự chấm dứt của thế giới, và con đường dẫn đến sự chấm dứt.”14
Hơn nữa, Ngài biết cả ba thế giới là thế giới các hành; thế giới của hữu tình và thế giới của xứ sở.
- Thế giới các hành là thế giới mà mọi loài hữu hình tồn tại nhờ thức ăn.
- Thế giới hữu hình có nghĩa là Ngài rõ khuynh hướng, tâm trạng và nghiệp báo thiện ác của tất cả các loài hữu tình.
_____________________
14 Tương Ưng bộ kinh . IA, 69.
- Thế giới xứ sở tức là mười phương diện thế giới hay vũ trụ bao la. Trong vũ trụ nầy đức Phật biết rõ sự vận hành sinh diệt của các hành tinh và những thứ khác.
e. Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Tượng Phu
- Vì trong thế giới Ta-bà nầy không có một người nào cao cả hơn Ngài về những đức tính đặc biệt, do đó, Ngài được gọi là không ai trên (Vô thượng sĩ). Ngài vượt hẳn thế gian về giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Như trong kinh đã nói: “Ta không thấy trong thế giới với chư thiên, ma, phạm vương, sa môn và Bà-la-môn với các tiểu vương và loài người, không một người nào toàn vẹn hơn ta về giới…” (S. I. 139). Cũng thế, trong một hệ khác nói: “Ta không có thầy, và người như Ta không có trong toàn thế giới.” (M. I, 171).Do đó nên Ngài được gọi là Bậc Vô Thượng Sĩ.
- Ngài dẫn đạo những người đáng dẫn đạo, và điều phục đủ loài chúng sinh, từ chư thiên cho đến loài phi nhân, như đoạn kinh sau đây mô tả: “ Nầy Kosi, Ta điều phục những ai đáng điều phục, khi thì ôn hòa, khi thì cứng rắn, khi thì vừa ôn hòa, vừa cứng rắn”. (A. II, 112) Do đó, Ngài được gọi là Bậc Điều Ngự Trượng Phu.
g. Thiên Nhân Sư
Ngài dạy dỗ về những vấn đề trong hiện tại, những vấn đề thuộc đời sau, và những mục đích tối hậu, tùy trường hợp thích đáng, cho nên Ngài là bậc Thầy. Một đoạn trong Niddesa diễn tả: “Đức Thế Tôn là bậc dẫn đạo đoàn lữ hành, người đưa kẻ lữ hành về đến nhà, đưa chúng vượt qua sa mạc sinh tử.” (Nd. I, 446)
Chư thiên và nhân loại là chỉ cho những kẻ tốt nhất, có khả năng tiến hóa nhất. Thậm chí nhờ tài giáo hóa của Ngài mà loài súc sinh may mắn được nghe diệu pháp, cũng hưởng được nhiều lợi lạc, được tái sinh vào những cảnh giới thuận tiện cho sự tiến hóa trong tương lai.
h. Phật
Ngài là đáng Giác Ngộ, là bậc trí tuệ tuyệt vời, đã tự mình giác ngộ và giác ngộ cho những kẻ khác cùng đạt đến mục đích trọn vẹn. Hoặc như Niddesa nói: “Ngài là đấng đã tìm ra chân lý, cho nên Ngài là Giác giả (Buddha); Ngài là đấng đánh thức chúng sinh, nên Ngài là Giác giả.” (Nd. I. 457). Do đó Ngài được gọi là Phật hay Bậc Giác Ngộ.
i. Thế Tôn
Thế Tôn (Bhagavant) là một danh từ có nghĩa kính trọng, tôn sung gán cho Ngài, được xem như cao cả nhất trong chúng sinh, là bậc được thế gian nhiệt thành tôn kính. Ngài còn được gọi là lưỡng túc tôn,vì giới hạnh và trí tuệ của Ngài đã đạt đến chỗ hoàn toàn viên mãn, nên được mọi loài tuyệt đối tôn sùng. Danh hiệu Thế Tôn không phải do cha mẹ đặt ra mà xuất phát từ sự giải thoát rốt ráo của những đấng Giác ngộ, do sự chứng đắc Chánh biến tri dưới cội Bồ-đề, nên Ngài được gọi là Thế Tôn. Ngài đã từ bỏ cả năm trăm nghìn thứ phiền não, đã đoạn trừ mọi khát ái, loại trừ mười bất thiện nghiệp, các lậu hoặc đã hoàn toàn đoạn tận, như bài kệ sau:
“ Từ bỏ tham, sân, si
Ngài không còn lậu hoặc
Ác pháp được tận trừ
Thế Tôn xứng tên gọi.”
Danh hiệu Phật ở đây chỉ kể có chín hiệu và ghép Vô thượng sĩ và Điều ngự trượng phu thành một. Thế nhưng, theo các Kinh Luận của Đại thừa thì danh hiệu của Phật được tính thành 10, như sau: 1. Như Lai; 2. Ứng Cúng; 3, Chánh Biến Tri; 4. Minh Hạnh Túc; 5. Thiện Thệ; 6. Thế Gian Giải; 7. Vô Thượng Sĩ; 8. Điều Ngự Trượng Phu; 9. Thiên Nhân Sư; 10. Phật, Thế Tôn. 15 Và Đại Trí Độ Luận lại tách Phật, Thế Tôn riêng ra; đến Phật là vừa đủ mười hiệu, còn Thế Tôn được xem như một tôn hiệu bao gồm đủ mười đức kể trên.
2. NIỆM PHÁP
Một người muốn tu tập về đề mục niệm pháp, hãy đi vào sống riêng biệt một mình và tưởng niệm những đức tính đặc biệt của pháp sư như sau: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, tự chướng ngay hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có hiệu năng hướng thượng, được người trí chứng biết”. (M. I, 37)
Khéo thuyết giảng là giảng một cách lão luyện ở phần nhập đề, phần nội dung và kết luận, tất vả đều hoàn hảo. Hoặc, toàn bộ giáo pháp tốt đẹp ở chặn đầu đem lại an lạc bản thân, chặng giữa với định, tuệ, đạo và quả, tốt đẹp ở chặn cuối với Niết bàn. Lại nữa, khéo giảng vì pháp được tuyên bố một cách thích đáng không mâu thuẫn, không trái ngược. Vì những
_____________________
15 Kinh Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa, quyển 17 và 18.
pháp Ngài gọi là chướng ngại, thực sự là chướng ngại, những pháp Ngài gọi là giải thoát thực sự là giải thoát.
Thiết thực hiện tại: Vì pháp nầy được thấy bởi một con người cao quí đã xa lìa tham dục nơi bản thân mình, như đoạn kinh mô tả: “Nầy Bà-la-môn, khi một người bị tham chi phối, bị tham tràn ngập, tâm bị ám ảnh bởi cảm thọ đau khổ về tâm. Khi tham đã được trừ diệt, nó cảm thọ đau khổ về tâm. Khi tham đã được trừ diệt, nó không suy nghĩ hại mình, hại người, hại cả hai, và không cảm thọ đau khổ về tâm. Nầy Bà-la-môn, đây là pháp thiết thực hiện tại”. (A. I. 156). Hơn nữa, pháp nầy có thể trông thấy kết quả ngay trong hiện tại, nên gọi là thiết thực hiện tại.
Không có thời gian nghĩa là pháp nầy không có chậm trễ trong việc đem lại kết quả, nên gọi là không có thời gian. Hoặc, thay vì phải đợi một thời gian mới có kết quả, thì pháp nầy đem lại kết quả ngay tức khắc.
Đến để mà thấy, nghĩa là pháp nầy mời gọi người ta thẩm sát như sau: “Hãy đến đây mà thấy pháp nây”, cho nên gọi là “đến để mà thấy” (Ehipassika). Vì pháp xuất thế nầy hoàn toàn thuần tịnh như mặt trăng răng trên bầu trời không mây, như ngọc mani trên tấm vải tinh sạch. Lại nữa, pháp nầy mang tính chất hướng thượng, đưa đến đạo quả giác ngộ và Niết bàn.
Có khả năng hướng thượng, nghĩa là pháp này có thể dẫn dắt chúng sinh đến cảnh giới cao quý là Đạo quả giác ngộ Niết-bàn.
Được người trí chứng biết, nghĩa là pháp nầy được những người lợi căn, những bậc trí tuệ chứng biết. Pháp
nầy không thể thấy như người ta thấy một đóa hoa, mà chỉ thấy được trong tự tâm mình, nghĩa là chỉ có người trí mới kinh nghiệm được, chứ không thuộc lãnh vực của những kẻ ngu, như một bài kệ đã đề cập:
“ Người thực sự có trí
Thì thường xuyên tu tập
Niệm tưởng về chánh pháp
Tối thắng nhiều tiềm năng.”
3. NIỆM TĂNG
Một người tu tập niệm Tăng, nên đi vào độc cư tại những nơi thanh vắng để tưởng niệm những đức tính đặc biệt của đoàn thể Thánh chúng như sau: “Chúng đệ tử của Thế Tôn đã đi vào thiện đạo, trực đạo, chân đạo, chánh đạo, nghĩa là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử nầy của Thế Tôn đáng được cúng dường, cung kính chấp tay chào, là phước điền vô thượng của thế gian.” (A. III, 286).
Đi và thiện đạo, trực đạo, chân đạo, chánh đạo có nghĩa là đi vào con đường thánh thiện, con đường thẳng, con đường đúng đắn và con đường chân chánh. Lại nữa, con đường này là con đường là con đường trung đạo, từ bỏ hai cực đoan là hưởng thụ và ép xác, từ bỏ những tà vạy và lỗi lầm.
Bốn đôi tám vị, nghĩa là trong bốn thánh quả, mỗi quả có hai bậc như sau: Dự lưu hướng, Dự lưu quả; Nhất lai hướng, Nhất lai quả; Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả; và A-la-hán hướng, A-la-hán quả.
Đáng được cúng dường, nghĩa là xứng đáng hưởng sự cúng dường của tín thí. Bởi vì những người cúng dường cho chúng Tăng sẽ được kết quả lớn như Pháp cú 107 nói:
“Dù trải một trăm năm
Thờ lửa tại rừng sâu
Chẳng bằng trong giây lát
Cúng dường bậc chân tu.”
Cung kính chấp tay chào, nghĩa là Chúng Tăng đáng được toàn thể thế gian cung kính chấp tay chào hỏi.
Là ruộng phước vô thượng của thế gian, nghĩa là Tăng chúng là đối tượng tuyệt hảo để cho chúng sinh gieo trồng phước đưc. VÌ các loại công đức của thế gian đưa đến an lạc hạnh phúc đều y cứ vào Thánh chúng để tăng trưởng, nên chúng tăng là ruộng phước vô thượng của thế gian. Khi hành giả tưởng niệm những đức tính đặc biệt của Tăng như thế, thì tâm hành giả sẽ không bị tham, sân, si chi phối, và dễ đưa đến an tịnh.
4. NIỆM GIỚI
Người muốn tu pháp niệm giới nên đi vào độc cư tại một nơi thanh vắng và tưởng niệm đến những loại giới khác nhau của chính mình:
- Nếu giới pháp mà người xuất gia hay tại gia đã lãnh thọ, không bị phá hủy ở chặng đầu, hay chặng cuối, như miếng vải bị xé rách ở hai đầu thì giới ấy gọi là không bị rách.
- Nếu giới không bị phá hủy ở chặng giữa, thì gọi là giới không bị lủng, như miếng vải bị đâm thủng ở giữa.
- Nếu học giới không bị vi phạm hai, ba lần liên tiếp, gọi là giới không bị vá.
- Nếu giới không bị phá cùng khắp, cách nhau từng
thời khoảng, thì gọi là giới không bị lốm đốm, như con bò có những đốm trên lưng.
Chính những giới ấy là nền tảng đưa đến giải thoát, vì chúng giải tỏa khỏi sự nô lệ do dục ái . Chúng được người trí tán thán. Chúng không liên hệ đến tham dục và tà kiến. Chúng có khả năng đưa đến thiền định.
Khi chuyên tâm vào việc niệm giới, hành giả có sự tôn trọng đối với học pháp. Vị nầy sống hòa hợp với những bạn đồng phạm hạnh, không sợ bị lương tâm cắn rứt. Vị nầy thấy sự sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, đạt đến long tin viên mãn. Vị nầy sẽ sống an lạc, dù không đạt được đạo quả nào cao hơn, thì cũng đang trên đường tiến đến những thiện thú tươi đẹp. Thế nên:
“ Người thật sự có trí
Sẽ thường xuyên niệm giới.
Vì việc này tốt đẹp,
Có công đức lớn lao.”
5. NIỆM THÍ
Người muốn tu tập niệm thí nên phát tâm bố thí một cách tự nhiên, thường san sẻ những gì mình có khi gặp người khác đến xin. Một người thường bố thí thì được nhiều người thân cận và mến mộ. Người nầy sẽ an ổn khi sống tại một trú xứ với suy nghĩ: “Ta an trú với tâm không bị ô nhiễm bởi tham.” Hay “Ta thích thú trong sự từ bỏ, ta vui mừng được cơ hội ban phát cho người nghèo thiếu một ít tài vật của chính mình.” Khi một Tỳ kheo chuyên tâm niệm tưởng về bố thí, hành xử phù hợp với tâm từ bi, và niệm vô úy, và do đó, sẽ hưởng được nhiều an lạc.
6. NIỆM THIÊN
Người muốn tu tập niệm thiên cần phải đi vào độc cư để tưởng niệm về chư thiên, và tin rằng: “Có chư thiên thuộc cõi tư thiên vương, chư thiên thuộc cõi Tam thập tam v.v… và chư thiên ấy có giới… đa văn, bố thí, tuệ trí, đồng thời trí tuệ ấy cũng có ở nơi ta”. Khi hành giả niệm tín, thí, giới, văn, tuệ của chư thiên, rồi liên tưởng mình cũng có đức tính ấy, thì tâm hành giả sẽ không bị tham, sân, si ám ảnh.
Tóm lại, một Tỳ kheo chuyên tâm niệm thiên sẽ được chư Thiên thương tưởng, nếu không đắc quả gì cao, thì ít nhất cũng hướng đến một cảnh giới tốt đẹp.
Nói chung, lục niệm vừa kể là đối tượng đanh cho các Tỳ kheo tu tập. Khi hành giả quyết chí chuyên niệm về một trong những đề mục ấy, cần phải sống độc cư tại một nơi thanh vắng, dốc hết tâm tư suy nghĩ về những đức tính tốt đẹp của đề tài mình đã chọn. Nhờ đó chuyên chú vào đề mục với những tính chất tốt đẹp, tâm hành giả sẽ dần dần loại trừ các cấu uế và trở nên thanh tịnh, tạo điều kiện để chứng đạt các thiền chứng. Ngoài ra, một cư sĩ nếu giới thanh tịnh, tạo điều kiện để chứng đạt các thiền chứng. Ngoài ra, một cu sĩ nếu giới thanh tịnh, cũng có thể tu tập sáu pháp nầy, nhờ đó các triền cái sẽ lắng xuống, tâm trở nên an lạc, trí tuệ sẽ phát triển, hướng đến những kết quả tốt đẹp trong đời sống hiện tại.
***