Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 20: Chương 1: Mô tả về các uẩn (Trang 165 - 190)

Chương 1
 
MÔ TẢ VỀ CÁC UẨN
(Khandha niddesa)


A. TUỆ
Sau khi kết thúc phương pháp tu tập về Định, giờ đây, trình bày cách thức tu tập về Tuệ. Tuệ có nhiều loại và nhiều khía cạnh, nhưng ở đây chủ yếu là trình bày về cái tuệ thuộc quán trí đưa đến đạp lộ siêu việt.
Tuệ là hiểu biết, tương tự với nó có tưởng tri và thức tri. Nhưng tưởng tri chỉ là sự nhận biết một đối tượng như xanh hay vàng. Thức tri vừa biết đối tượng ấy xanh hay vàng, vừa biết bản chất của đối tượng ấy. Còn Tuệ vừa biết đối tượng theo cách đã nói, vừa hướng đến một đạo lộ siêu thế do tinh tấn. Tưởng tri ví như một đứa trẻ khi nhìn đồng tiền, chỉ biết đó là một vật kim loại, có hình vẽ. Thức tri như người nhà quê không thể phân biệt
đó là tiền giả hay thật. Tuệ như người đổi tiền, biết rõ tính chất và giá trị của đồng tiền. Tuy thế, sự khác nhau giữa chúng rất tế nhị, khó mà phân biệt rằng: “đây là tưởng tri, đây là thức tri và đây là tuệ”.
Nếu phân tích chi tiết thì tuệ có một loại, hai loại, ba loại và bốn loại.

a. Tuệ một loại: nó có đặc tính đi sâu vào tự tính của các pháp.
b. Tuệ hai loại: thế gian và xuất thế gian.
1. Tuệ thế gian là liên hệ đến đạo lộ thế gian.
2. Tuệ xuất thế gian là tuệ liên hệ đến đạo lộ siêu thế.
c. Tuệ ba loại [1] : văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ.
1. Văn tuệ: tuệ có được do nghe người khác.
2. Tư tuệ: Tuệ có được do sự suy nghĩ của mình.
3. Tu tuệ: Tuệ phát sinh nhờ tu thiền định và đạt đến an lạc.
Tuệ ba loại [2]: tuệ có một đối tượng hữu hạn; tuệ có một đối tượng đại hành và tuệ có một đối tượng vô lượng.
1. Tuệ khởi lên liên hệ với các pháp Dục giới là tuệ có đối tượng hữu hạn
2. Tuệ khởi lên liên hệ với các pháp Sắc giới hay Vô sắc giới là tuệ có đối tượng đại hành.
3. Tuệ sinh khởi liên hệ đến Niết bàn là tuệ có đối tượng Vô lượng.
d. Tuệ bốn loại [1]:
1. Tuệ phát sinh liên hệ đến chân lý về khổ gọi là khổ trí.
2. Tuệ phát sinh do biết nguồn gốc của khổ, gọi là Khổ tập trí.
3. Tuệ phát sinh liên hệ đến sự diệt khổ, gọi là diệt trí.
4. Tuệ phát sinh liên hệ đến đạo lộ đưa đến diệt khổ: gọi là khổ diệt đạo trí.
Tuệ bốn loại [2]: Ngoài ra còn có bốn loại tuệ khác được gọi là bốn biện tài, đó là:
1. Trí biết về nghĩa, gọi là biện tài về nghĩa.
2. Trí biết về pháp, gọi là biện tài về pháp.
3. Trí biết về các ngôn từ, gọi là biện tài về từ.
4. Trí biết về các loại trí, gọi là biện tài về trí.

B.NĂM UẨN
Bây giờ đến lượt trình bày về năm uẩn. Năm uẩn là Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.
I. Sắc uẩn:
Trước hết nói về sắc uẩn. Bất cứ pháp nào có đặc tính bị quấy nhiễu bởi lạnh, nóng v.v… đều bao gồm trong sắc uẩn. Nếu đem phân loại thì có sắc uẩn thuộc một loại, hai loại và bốn loại. Một loại là nó có đặc tính bị quấy nhiễu. Hai loại là đại chủng sắc và sở tạo sắc.
1. Đại chủng sắc có bốn loại: Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại và Phong đại*.
2. Sở tạo sắc có 24 loại: 1. Mắt; 2. Tai; 3. Mũi; 4.
________________
*  xem lại chương IX.
Lưỡi; 5. Thân; 6. Sắc; 7. Thanh; 8. Hương; 9. Vị; 10 Nữ căn; 11. Nam căn; 12. Mạng căn; 13. Tâm cơ; 14. Thân biểu; 15. Ngữ biểu; 16. Không giới; 17. Kinh khoái; 18. Nhu nhuyến; 19. Kham nhâm; 20. Sinh; 21. Trú; 22. Lão; 23. Vô thường; 24. Đoàn thực.
1. Mắt: Đặc tính của nó là sự nhạy cảm của bốn đại trước sự va chạm với sắc pháp.
2. Tai: Đặc tính của nó là sự nhạy cảm của bốn đại khi tiếp xúc với âm thanh.
3.Mũi: Đặc tính của nó là sự nhạy cảm của bốn đại khi tiếp xúc với mùi hương.
4. Lưỡi: Đặc tính của nó là sự nhạy cảm của bốn đại khi tiếp xúc với vị.
5. Thân: Đặc tính của nó là sự nhạy cảm của bốn đại khi xúc chạm những vật sờ được.
Một số luận sư cho rằng: “Trong con mắt, hỏa thịnh; trong lỗ tai, phong thịnh; trong lỗ mũi, địa thịnh; trong lưỡi, thủy thịnh; trong thân thì bốn đại quân bình”.
Ví dụ: Như những con rắn, cá sấu, chim, chó, chồn hoang thường hướng về nơi chúng hay lui tới là tổ kiến, nước, không gian, làng mạc, nghĩa địa v.v…
6.Sắc: Có đặc tính là đập vào mắt. Nhiệm vụ nó là làm đối tượng cho nhãn thức.
7. Thanh: Có đặc tính là đập vào tai. Nhiệm vụ nó là làm đối tượng cho nhĩ thức.
8. Mùi: Có đặc tính là đập vào mũi. Nhiệm vụ nó là làm đối tượng cho tỉ thức.
9. Vị: Có đặc tính là đập vào lưỡi. Nhiệm vụ nó là làm đối tượng cho thiệt thức.
10. Nữ căn: Có đặc tính là nữ tính. Nhiệm vụ nó là phân biệt với nam giới.
11. Nam căn: Có đặc tính là nam tính. Nhiệm vụ nó là phân biệt với nữ giới.
12. Mạng căn: Có đặc tính là duy trì các loại sắc câu sinh. Nhiệm vụ nó là làm cho các sắc ấy sinh ra.
13. Tâm cơ: Có đặc tính là làm điểm tựa cho ý giới và ý thức giới. Nhiệm vụ nó là làm phương tiện cho chúng.
14. Thân biểu: Nó làm nhân cho sự duy chuyển tới lui. Nhiệm vụ nó là bày tỏ ý định.
15. Ngữ biểu: Nó làm nhân cho sự phát ngôn. Nhiệm vụ nó là bày tỏ nguyện vọng.
16. Không giới: Có đặc tính là định giới hạn cho sắc. Nhiệm vụ nó là bày ra những ranh giới của sắc.
17. Kinh khoái: Có đặc tính là không chậm chạp. Nhiệm vụ nó là xua tan tính nặng nề của sắc.
18. Nhu nhuyến: Có đặc tính là không cứng đờ. Nhiệm vụ nó là xua tan tính cứng đờ của sắc.
19. Kham nhậm: Có đặc tính là dễ sử dụng thuận tiện cho các hành vi của thân. Nhiệm vụ nó là xua tan tính khó sử dụng.
20. Sinh: Có đặc tính là dựng nên. Nhiệm vụ nó là làm cho các sắc pháp nổi lên đầu tiên.

 
21. Trụ: Nó được biểu hiện bằng sự không gián đoạn. Nhiệm vụ nó là giữ lại.
22. Già: Có đặc tính là làm chính muồi sắc pháp. Nhiệm vụ nó là tiếp tục dẫn đến sự chấm dứt.
23. Vô thường: Có đặc tính là tan rã hoàn toàn. Nhiệm vụ nó là làm cho sắc pháp chìm xuống.
24. Đoàn thực: Có đặc tính là làm dưỡng chất. Nhiệm vụ nó là làm nuôi dưỡng các loại sắc.

Như vậy, Đại chủng sắc gồm bốn thứ. Sở tạo sắc gồm hai mươi bốn thứ, tất cả có hai mươi tám thứ thuộc về sắc pháp. Tính chất của chúng là vô nhân, tách rời nhân, hữu duyên, hữu lậu, thuộc thế gian v.v… Nó thường có hai phương diện: nội sắc và ngoại sắc; thô và tế; xa và gần; sở tạo và phi sở tạo; tịnh sắc và phi tịnh sắc; căn sắc và phi căn sắc; hữu chấp phủ và vô chấp phủ v.v…
Năm thứ mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, gọi là nội sắc; vì chúng sinh ra như một phần của toàn thể con người. Những gì còn lại là ngoại sắc; vì chúng ở ngoài con người. Năm thứ trên cộng thêm sắc, thanh, hượng, vị và địa, hỏa, phong thành mười hai thứ được xem là thô sắc; vì chúng có sự tiếp xúc. Còn lại là tế sắc, vì chúng ngượi lại. Cái gì tế gọi là viễn sắc (sắc xa); vì chúng khó vào sâu. Cái gì thô gọi là cận sắc (sắc gần); vì chúng dễ vào. Bốn đại chủng, đoàn thực và mười ba thứ khởi từ mắt, thành mười tám thứ, gọi là tịnh sắc; vì chúng là điều kiện để nhận biết các sắc pháp v.v… Còn lại là phi tịnh sắc; vì ngược với tịnh sắc. Tịnh sắc, nam căn, nữ căn và mạng căn, gọi là căn sắc; vì tính nổi bật
của chúng. Còn lại là phi căn sắc; vì ngược lại với căn sắc. Những thứ đề cập sau đây, kể như nghiệp sinh, gọi là hữu chấp thủ; còn lại là vô chấp thủ.
Về loại thô sắc, thì một vật có thể thấy được gọi là sắc hữu kiến, hữu đối; còn lại là vô kiến, hữu đối. Tất cả tế sắc là vô kiến, vô đối.
Lại nữa, sắc thuộc bốn loại là: Kiến, văn, giác, tri. Sắc xứ được thấy, vì là đối tượng của sự thấy, nên thuộc về kiến. Thanh xứ được nghe, vì là đối tượng của sự nghe, nên thuộc về văn. Hương, vị, xúc xứ được biết, vì là đối tượng của cảm giác, nên thuộc về giác. Các sắc còn lại đều là đối tượng nhận thức của tâm, nên thuộc về tri.
Nói chung, Sắc uẩn hay Sắc pháp ở đây được chia thành hai loại, Đại chủng sắc và sở tạo sắc, gồm có hai mươi tám thứ. Thế nhưng, các luận điển của Đại Thừa (Duy thức) chia Sắc pháp thành hai loại là căn và trần gồm mười một thứ như sau: Nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiện căn, và thân căn (5 căn). Sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần (6 trần).
II. Tâm uẩn (Thức uẩn)
Trong năm uẩn, một uẩn đầu thuộc về sắc, đã được đề cập ở trên, bốn uẩn còn lại thuộc về tâm, giờ đây sẽ bàn đến. Cái gì có đặc tính cảm thọ, thuộc về thọ uẩn. Cái gì có đặc tính tri giác, tưởng tượng, thuộc về tưởng uẩn. Cái gì có đặc tính tạo tác, thuộc về hành uẩn. Cái gì có đặc tính phân biệt, thuộc về thức uẩn. Trong các uẩn trên, thức uẩn là trọng tâm của tất cả. Ở đây, Thức uẩn có nghĩa như tâm hay ý.
Theo bản luận, tâm thức được phân tích thành ba phương diện là thiện, bất thiện và bất định, gồm có tám mươi chín thứ.
Thiện tâm được chia theo bốn cõi là Dục giới; Sắc giới; Vô sắc giới và Siêu thế.
a. Thiện tâm ở Dục giới với hỉ, xả, trí và nhắc bảo, gồm có tám thứ sau đây:
1/ Câu hữu với hỷ, tương ứng với trí, cần nhắc bảo.
2/ Câu hữu với hỷ, tương ứng với trí, không cần nhắc bảo.
3/ Câu hữu với hỷ, không tương ứng với trí, cần nhắc bảo.
4/ Câu hữu với hỷ, không tương ứng với trí, không cần nhắc bảo.
5/ Câu hữu với xả, tương ứng với trí, cần nhắc bảo.
6/ Câu hữu với xả, tương ứng với trí, không cần nhắc bảo.
7/ Câu hữu với xả, không tương ứng với trí, cần nhắc bảo.
8/ Câu hữu với xả, không tương ứng với trí, không cần nhắc bảo.
Giải thích
1. Khi một người sung sướng nghĩ rằng: “Bố thí có công đức lớn”, và bố thí không do dự; đó là tâm câu hữu với hỷ, tương ứng với trí không cần nhắc bảo.
2. Khi một người sung sướng hài lòng như trên, nhưng hành động do dự, cần được người khác nhắc bảo; đó là tâm cần nhắc bảo.
3.  Khi một em bé bắt chước người lớn, làm việc thiện một cách tự nhiên; đó là tâm không cần nhắc bảo.
4. Khi một em bé muốn làm việc thiện, nhưng phải được người lớn cỗ vũ; đó là tâm cần nhắc bảo.
5-8. Tương tự bốn trường hợp trên, nhưng không có hỷ; đó là tâm câu hữu với xả.
Đó là tám thiện tâm thuộc Dục giới.
Năm thiện tâm thuộc sắc giới:
9.Tương ưng với cả năm thiền chi (tâm Sơ thiền).
10. Tương ưng với tứ, hỷ, lạc, nhất tâm (tâm Nhị thiền).
11. Tương ưng với hỷ, lạc, nhất tâm (tâm Tam thiền).
12. Tương ưng với lạc, nhứt tâm (tâm Tứ thiền).
13. Tương ưng với xả và nhất tâm (tâm Ngũ thiền).
Đó  là năm thiện tâm thuộc Sắc giới, theo hệ thông Ngũ thiền.
Bốn thiện tâm thuộc Vô sắc giới:
 14-17. Tương ưng về Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Bốn thiện tâm thuộc Siêu thế:
18-21. Tương ưng với bốn đạo lộ thuộc bốn thánh quả.
Như vậy, Thiện tâm gồm tất cả 21 thứ.
a. Tâm bất thiện thuộc Dục giới: Tâm nầy chỉ thuộc Dục giới, liên hệ đến ba yếu tố, là tham, sân và si, gồm có mười hai thứ.
Tâm bất thiện liên quan đến tham gồm tám thứ:
22. Câu hữu với hỷ, tương ưng với tà kiến, không cần nhắc bảo.
23. Câu hữu với hỷ, tương ưng với tà kiến, cần nhắc bảo.
24. Câu hữu với hỷ, không tương ưng tà kiến, không cần nhắc bảo.
25. Câu hữu với hỷ, không tương ưng tà kiến, cần nhắc bảo.
26. Câu hữu với xả, tương ưng tà kiến, không cần nhắc bảo.
27. Câu hữu với xả, tương ưng với tà kiền, cần nhắc bảo.
28. Câu hữu với xả, không tương ưng tà kiến, không cần nhắc bảo.
29. Câu hữu với xả, không tương ưng tà kiến, cần nhắc bảo.
Tâm bất thiện liên quan đến sân, gồm hai thứ:
30. Câu hữu với ưu, tương ưng với hận, không cần nhắc bảo.
31. Câu hữu với ưu, tương ưng với hận, cần nhắc bảo.
Tâm bất thiện liên quan đến si, gồm hai thứ:
32.Câu hữu với xả, tương ưng với nghi
33. Câu hữu với xả, tương ưng với trạo cứ.
Đó là mười hai thứ bất thiện tâm thuộc Dục giới.
Tâm bất định:
Loại này chia theo hai phương diện là tâm dị thục và tâm duy tác. Tâm dị thục và tâm duy tác. Tâm dị thục lại xếp theo bốn cõi là Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và Siêu thế. Tâm thuộc Dục giới có hai loại là Thiện dị thục và Bất thiện dị thục. Thiện dị thục lại chia thành hai loại là vô nhân và hữu nhân.
Thiện dị thục vô nhân: tâm không có tham v.v…làm nhân cho quả dị thục, gồm có tám thứ:
34-38. Nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức và thân thức.
39. Ý giới, có nhiệm vụ tiếp thọ.
40-41. Hai ý thức giới với nhiệm vụ suy đạt v.v…
Giải thích:
Nhãn thức (34) có đặc tính được hỗ trợ bởi con mắt, và nhận biết sắc pháp.
Ý giới (39) có đặc tính là nhận biết sắc, kế tiếp nhãn thức.
Ý thức giới (40-41) có đặc tính là nhận biết sáu loại đối tượng; nhiệm vụ của nó là suy đạt.
Tâm dị thục vô nhân (40) tương ưng với hỷ, có hai vị trí trong lộ trình tâm là: khởi lên ở năm căn môn (Ngũ môn hướng tâm), gọi là tâm suy đạt; khởi lên ở cuối tốc hành tâm, gọi là tâm đồng sở duyên.
Tâm (41) tương ưng với xả, có năm vị trí là: ở tâm suy đạt; đồng sở duyên; kiết sinh; hữu phần; tử tâm.
Thiện di thục hữu nhân: những tâm tương ưng với vô tham, vô sân, vô si, làm nhân quả dị thục, từ tâm (42) – (49). Nó có tám loại, liên quan đến hỷ, xả, trí và nhắc bảo, y như thiện tâm thuộc Dục giới từ (1) – (8).
Bất thiện dị thục: Loại này chỉ có vô nhân, gồm bảy thứ:
50-54: Nhãn thức, nhĩ thức, tử thức, thiệt thức, thân thức.
55. Ý giới nhiệm vu tiếp thọ.
56. Ý thức giới với nhiệm vụ suy đạt, có 5 vị trí, về đặc tính v.v… tương tự như thiện di thục vô nhân (34-41).
Chỗ khác nhau giữa Thiện dị thục và Bất thiện di thục là Thiện dị thục thì chỉ có những đối tượng khả ý hoặc khả ý trung tính, còn Bất thiện dị thục thì chỉ có
những đối tượng bất khả ý, hoặc bất khả ý trung tính. Như vậy, tâm dị thục Dục giới có tất cả 23 thứ.
Tâm dị thục Sắc giới gồm có năm thứ:
57-61: Giống như tâm thiền (9-13). Nhưng, chỗ khác nhau là tâm nầy khởi lên như một kiết sinh, hữu phần và tử tâm.
Tâm dị thục Vô sắc giới gồm có bốn thứ:
62-65: Các tâm nầy thuộc Không vô biên xứ v.v… Như (14-17). Sự sinh khởi của nó cũng được xếp loại như đã nói về tâm sắc giới.
Tâm dị thục Siêu thế gồm có bốn thứ:
66-69: Đây là quả của những tâm tương ưng với bốn đạo lộ, như các tâm (18-21), sẽ đề cập chương IX.
Như vậy, tâm dị thục trong cả bốn cõi gồm có ba mươi sáu thứ.
Tâm duy tác được chia theo ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Dục giới gồm hai loại, vô nhân và hữu nhân.
Duy tác vô nhân là không có tham v.v… làm nhân cho quả dị thục, gồm tâm chia làm hai loại:
70. Ý giới có đặc tính làm tiền đạo cho nhãn thức.
71-72. Ý thức giới nầy gồm có hai là chung và không chung. Chung (71) là câu hữu với xả. Không chung (72) là câu hữu với hỷ.
Như vậy tâm duy tác vô nhân thuộc Dục giới gồm có ba thứ.
Duy tác hữu nhân ở Dục giới, gồm tám thứ:
73-80. Giống như thiện tâm ở Dục giới (1-8). Nhưng, chỗ khác nhau là thiện tâm chỉ khởi lên ở bậc phàm phu hữu học, còn duy tác tâm hữu nhân thì khởi nơi vị A-la-hán.
Như vậy, tâm Duy tác ở Dục giới gồm 11 thứ.
Tâm Duy tác ở Sắc giới có năm thứ:
81-85. Tâm Duy tác ở Vô sắc giới có bốn thứ:
86-89. Cả hai loại nầy giống Thiền tâm sắc giới và Vô sắc giới. Nhưng tâm Duy tác thì chỉ khởi lên nơi vị A-la-hán.
Như vậy, tâm Duy tác ở cả ba cõi gồm có 20 thứ.
Tóm lại, Thiện tâm gồm có 21; Bất thiện tâm gồm có 12; Bất định dị thục có 36; Bất định duy tác có 20; tổng cộng thành 89 tâm. Xem đồ biểu dưới đây:
III.Thọ uẩn
Thế nào là Thọ uẩn? Bất cứ cái gì đều có đặc tính được cảm nhận, gọi là Thọ uẩn. Thông thường Thọ gồm có ba loại: lạc thọ, khổ thọ và xả thọ (bất khổ bất lạc thọ); hoặc nó được xếp theo ba loại: thiện, bất thiện và bất định ; hoặc được chia thành năm loại: thân lạc, thân khổ, tâm hỷ, tân ưu và xả.
Lạc có đặc tính là cảm nhận một vật xúc chạm đáng ưa thích. Nó được biểu hiện bằng sự vui sướng của thân.
Khổ có đặc tính là cảm thọ một vật được xúc chạm không đáng ưa .Nó có biểu hiện là sự đau đớn của thân.
Hỷ có đặc tính là cảm thọ một đối tượng đáng ưa thích.Nó được biểu hiện bằng sự vui mừng trong tâm.
Ưu có đặc tính là cảm thọ một đối tượng không đáng ưa.Nó được biểu hiện bằng sự lo buồn trong tâm.
Xả có đặc tính là cảm thọ một đối tượng không vui không khổ. Nó được biểu hiện bằng sự an tĩnh.
Đó là những giải thích về Thọ uẩn.
IV.Tưởng uẩn
Thế nào là Tưởng uẩn? Bất cứ cái gì có đặc tính tri giác, tưởng tượng, đều thuộc về Tưởng uẩn. Ở đây, tưởng cũng xếp thành ba loại:thiện, bất thiện, và bất định. Cái gì tương ưng với thiện tâm, gọi là thiện, tương ưng với bất thiện tâm, gọi là bất thiện. Tưởng không thể tách rời với tâm, nên nó có cùng một cách phân loại như tâm, nghĩa là gồm 89 loại.
Về đặc tính, tưởng chỉ có một là nhận biết. Nhiệm vụ của nó là ghi nhận một dấu hiệu để làm điều kiện cho
Lần sau có thể nhận diện được, như “đây là một thứ như trước”. Đó là những giải thích về Tưởng uẩn.
V.Hành uẩn
Thế nào là Hành uẩn? Bất cứ cái gì có đặc tính tạo tác, gọi là Hành uẩn.Theo đặc tính thì Hành chỉ có một,nhưng theo loại thì ba:thiện, bất thiện và bất định.Hành tương ưng với 89 loại tâm.
Trước hết, tương ưng với thiện tâm thuộc Dục giới có hai mươi bảy tâm sở biến hành, bốn tâm sở bất định và năm tâm sở không thường, tổng cọng là ba mươi sáu tâm sở hành.
Hai mươi bảy Tâm sở biến hành:
1. Xúc (Phasso)
2.Tư (Cetanà)
3. Tầm (Vitakko)
4. Tứ (Vicàra)
5. Hỷ ( Pìti)
6. Tinh tấn (Viriyam)
7. Mạng căn (Jìvitindriyam)
8.Định (Samàdhi)
9. Tín (Saddhà)
10. Niệm (Sati)
11. Tàm (Hiri)
12. Qúi (Ottapam)
13. Vô tham (Alabho)
14. Vô sân (Adoso)
15. Vô si (Amoha)
16. Tâm sở thư thái (Kàyapassdddhi)
17. Tâm thư thái (Cittapassaddhi)
18. Tâm sở khinh an (Kàyalahutà)
19. Tâm khinh an (Cittalahutà)
20. Tâm sở nhu nhuyến (Kàyamudutà)
21. Tâm nhu nhuyến (Cittamudutà)
22. Tâm sở khan nhậm (Kàyakammannatà)
23. Tâm kham nhậm (Cittakammanntà)
24. Tâm sở tinh luyện (Kàyapàgunnatà)
25. Tâm tinh luyện (Cittapàgunnatà)
26. Tâm sở chánh trực (Kàyujjukatà)
27. Tâm chánh trực (Cittjjukatà)

Bốn tâm sở bất định:
28. Dục (Chanda)
29. Thắng giải (Adhimokkha)
30. Tác ý (Manikàra)
31. Trung tánh (Tatramajjattatà)
Năm Tâm sở không thường:
32. Bi (Karuà)
33. Hỷ (Mudità)
34. Vô thân ác hạnh
35. Vô ngữ ác hạnh
36. Tà tâm mạng
Trên nay, khi nói tâm thư thái, khinh an v.v…thì chỉ có tâm được như vậy; còn khi nói tâm sở thư thái, khinh
an v.v… thì cả cơ thể vật lý cũng được như vậy. Đó là chỗ khác nhau giữa tâm thư thái… và tâm sở thư thái.
Bây giờ đề cập đến các tâm sở tương ưng với tâm bất thiện có nguồn gốc từ tham. Loại này gồm có mươi ba tâm sở biến hành và bốn tâm sở bất định, thành ra mười bảy thứ.
Mười ba Tâm sở biến hành: Xúc, tư, tầm, tứ, hỷ, tinh tấn, mạng căn, định, vô tàm, vô quí, tham, si, tà kiến.
Bốn bất định: Dục, thắng giải, trạo cử và tác ý. Đó là những tâm sở tương ưng với tâm bất thiện.
Tiếp theo đây là những tâm sở tương ưng với tâm bất thiện có nguồn gốc từ sân. Loại nầy có tất cả mười tám thứ: mười một tâm sở biến hành, bốn tâm sở bất định và ba tâm sở không thường.
Mười một Tâm sở biến hành: Xúc, tư, tầm, tứ, tinh, tấn, mạng căn, định, vô tàm, vô quí, sân, si.
Bốn Tâm sở bất định (xem trên),
Ba Tâm sở không thường: Tật đố, xan lẫn và trạo hối.
Lại có mười ba tâm sở tương ưng với tâm bất thiện có gốc từ si, mười một tâm sở biến hành (xem ở trên);
Hai tâm ở bất định: Trạo cử, tác ý.
Về các tâm sở tương ưng với tâm bất định dị thục gồm có hai loại là hữu nhân và vô nhân. Những tâm sở nào tương ưng với tâm dị thục vô nhân, gọi là các hành vô nhân. Những tâm sở nào tương ưng với tâm dị thục hữu nhân, gọi là các hành hữu nhân.
Các tâm sở tương ưng với tâm dị thục Sắc giới (57-61), với tâm dị thục Vô sắc giới ( 62-65) và tâm dị thục
Siêu thế ( 66-69) là tương tự các tâm sở tương ưng với thiện tâm cùng loại ( 9-21).
Các tâm sở tương ưng với tâm bất định duy tác cũng được chia thành hai loại là vô nhân và hữu nhân. Những tâm sở nào tương ưng với các tâm duy tác vô nhân ( 70-72), gọi là các hành vô nhân. Những tâm sở nào tương ưng với các tâm duy tác hữu nhân ( 73-80), gọi là các hành hữu nhân.
Các tâm sở tương ưng với tâm duy tác Sắc giới (81-85) và tâm duy tác Vô sắc giới ( 86-89) cũng tương tự như các tâm sở tương ưng với thiện tâm ( 9-17).
Trên đây là phần trình bày về các tâm sở thuộc về hành. Sau đây là vài giải thích thêm để làm sáng tỏ năm thủ uẩn. Giữa uẩn và thủ uẩn khác nhau thế nào?
Uẩn là được nói lên mà không phân biệt
Thủ uẩn là nói để phân biệt những uẩn bị chấp thủ và còn lậu hoặc. Chẳng hạn, khi nói sắc thì đó làm đối tượng cho sự chấp thủ, thì nó được gọi là thủ uẩn. Thọ, tưởng, hành và thức cũng thế, khi chúng không còn lậu hoặc chi phối, thì chúng chỉ là pháp đơn thuần. Nhưng khi chúng còn lậu hoặc và là cơ sở cho sự chấp thủ, thì chúng được gọi là Thủ uẩn.
Những ví dụ về năm Uẩn:
Sắc thủ uẩn ví như cái phòng bệnh, vì nó là chỗ cư trú;
Thọ thủ uẩn, ví như cơn bệnh, vì nó đem lại đau khổ;
Tưởng thủ uẩn  ví như sự kích thích cơn bệnh, vì nó làm sinh khởi cảm thọ tương ưng với tham;
Hành thủ uẩn ví như dùng thứ thuốc không thích hợp, vì nó là nguồn gốc phát sinh ra bệnh;
Thức thủ uẩn ví như người bệnh, vì nó không bao giờ thoát khỏi thọ và cơn bệnh.
Lại nữa, năm uẩn lần lượt được ví như lao ngục, hình phạt, tội lỗi, người trừng phạt và người gây tội.
Lại thêm một ví dụ khác:
Sắc ví như đống bọt;
Thọ ví như bong bóng nổi trên mặt nước;
Tưởng ví như ảo ảnh;
Hành ví như thân cây chuối;
Thức ví như trò ảo thuật.
Nếu một người thấy Nội sắc là bất tịnh, thì hiểu rõ về thức ăn đoàn thực.
Một người thấy Thọ là khổ, thì hiểu rõ xúc thực.
Một người thấy Tưởng, Hành là Vô ngã, thì hiểu rõ tư niệm thực.
Một người thấy Thức là vô thường, thì hiểu rõ thức thực. Người ấy từ bỏ tà kiến thấy thường trong vô thường, vượt bộc lưu vô minh, thoát kiết sử vô minh, giải thoát vô minh lậu, bẻ gãy hệ phược của sự bám vào lễ nghi tế tự. Người ấy sẽ không chấp thủ tà kiến, thoát khỏi kiến thủ.
Đến đây, kết thúc chương I “ mô tả uẩn”, trong sự tu tập về Tuệ.


***
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »