Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 9: Chương 2: Định phân tích đề mục đất (Trang 53 - 68)

Chương 2

ĐỊNH PHÂN TÍCH ĐỀ MỤC ĐẤT
(Pathavì-kasina-Niddesa)

Khi hành giả đã chọn một đề mục thích hợp để tu tập cần phải an trú tại một xứ thuận tiện, tránh các chướng ngại sau: Trú xứ quá rộng, mới mẻ, tả tơi, gần đường, có cây ăn trái, có tiếng tăm, gần đô thị, gần chỗ lấy gỗ, gần đồng ruộng cày cấy, có những người xung quanh khắc nhau, gần cửa khẩu, gần biên giới các nước, gần kinh đô, thiếu thiện tri thức.
Nếu trú xứ quá rộng thì sẽ có đông người thành ra bất tiện; hoặc một ngôi chùa mới vì trở ngại của việc xây cất; còn nếu chùa cũ kỹ tơi tả, thì phải lo việc sửa chữa.

Nếu gần đường thì luôn luôn có khách lui tới. Nếu có cây ăn trái thì có người đến hái quả. Nếu là chỗ nổi tiếng thì thường có nhiều người lui tới đảnh lễ. Nếu gần đô thị sẽ gặp nhiều cảnh hào nhoáng đập vào mắt. Nếu đến chỗ lấy gỗ sẽ gặp cảnh ồn ào tấp nâp. Còn gần đồng ruộng thì bị những người làm ruộng gây trở ngại. Nếu trú xứ có những người chống đối nhau, thì gây nên không khí căn thẳng bất an. Nếu ngôi chùa gần cửa khẩu  thì bất tiện ví có nhiều đoàn lữ hành tới xin tá túc. Nếu ở gần biên giới các nước thì sợ có việc tranh chấp, binh đao xảy ra. Nếu thiếu thiện tri thức thì không ai dìu dắt giúp đỡ. Đó là những điều kiện bất tiện đối với một hành giả tu tập thiền quán.
Trái lại, một trú xú thuận lợi cho sự tu tập sẽ có năm yếu tố như đức Thế Tôn dạy: ”Một trú xứ không quá xa, không quá gần và có một con đường để đi lại; ban ngày ít người lui tới, ban đêm ít ồn ào; ít ruồi, muỗi, gió, ánh nắng và các loài bò sát; người sống trong đó dễ kiếm bốn thứ nhu yếu; trong đó có những thượng tọa Tỳ kheo đa văn, thông kinh điển, những người tuân giữ Pháp và Luật, thỉnh thoảng hỏi nghĩa lý kinh điển thì những vi nầy có thể khai thị những người chưa được khai thị, trừ nghi cho hành giả những điểm còn nghi”.  (A. V. 15)
Khi một Tỳ kheo đã tìm được một nơi tương đối thuận lợi, thì cần phải chọn những đề mục thích hợp để thiền quán. Đề mục hay kiến xứ phổ thông nhất mà các Tỳ kheo thường dùng là đề mục đất.
Cách làm biến xứ đất này có thể gắn cố định tại một chỗ hoặc dùng để mang theo bên mình đều được. Biến 
xứ cố định thì nên nắn một cục đất có hình dáng một đóa hoa sen, đường kính khoảng một gang tay, đặt tại một chỗ thuận tiện khi ngồi thiền, tránh các màu xanh, vàng, đỏ hoặc trắng. Trước lúc ngồi, phải loại trừ các chướng ngại từ nơi thân mình nhưu tóc và móng tay dài, thân thể phải tắm rửa sạch sẽ, vá lại áo rách, nhuộm lại y cũ v.v... Thế rồi, đặt hết tâm tư vào đối tượng ấy, nghĩ rằng: ”Chắc chắn bằng cách nầy ta sẽ thoát khỏi già chết”. Và suy nghĩ: ”Dục đem lại vui ít mà khổ nhiều, não nhiều”, khởi lên sự khao khát thoát ly dục vọng, khao khát từ bỏ mọi sự ô nhiễm của tâm hồn. Khởi lên niềm hân hoan tưởng nhớ những đức tính đặt biệt của Phật, Pháp, Tăng. Khởi lên niềm kính phục với ý nghĩ rằng: ”Đây là con đường từ bỏ mà tất cả các chư Phật, Độc giác và Thánh chúng đã dấn thân”. Khởi lên niềm hăng hái với ý nghĩ: ”Bằng cách nầy, chắc chắn ta sẽ biết được vị ngọt của hạnh độc cư”. Sau đó, vị nầy nên mở hai con mắt một cách vừa phải, quán tưởng và tiếp tục khai triển, nhưng mắt không rời đối tượng, như thể đang nhìn gương mặt mình trên một tấm gương soi.
Hành giả tiếp tục tu tập quán biến xứ ấy cho đến khi thâm nhập vào nơi tâm, bấy giờ dù mở mắt hay nhắm mắt, hành giả vẫn thấy tướng ấy rõ ràng. Đó tức là Sơ tướng đã phát sinh. Thế rồi, tiếp tục quán chiếu dần dần, những triền cái được dập tắt, cấu uế lắng xuống, tâm trở nên tập trung với định cận hành và Tợ tướng xuất hiện. Sự khác nhau giữa Sơ tướng và Tợ tướng, như sau: Trong Sơ tướng, bất cứ lỗi nào của biến xứ đều hiện rõ, nhưng Tợ tướng xuất hiện như thể tách rời khỏi sơ tướng và trong sạch hơn gấp trăm ngàn lần.
Tâm hành giả bấy giờ trở nên an tĩnh, mà thông thường luận chủ gọi là phát sinh hai thứ định. Đó là Định cận hành (upacàra) và Định an chỉ (appanà). Định cận hành là do từ bỏ những triền cái, và Định an chỉ là do sự xuất hiện những thiền chi. Hai loại nầy khác nhau chủ yếu là khi Định cận hành thì các thiền chi (tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm) còn yếu kém, nhưng đến khi Định an chỉ các thiền chi trở nên mạnh mẽ, và do thế, khi định nầy phát sinh là lúc hữu phần dừng lại, tâm tiếp tục với một dòng tốc hành tâm suốt cả đêm ngày.
 
MƯỜI THIỆN SẢO TRONG ĐỊNH AN CHỈ

 Nếu như chọn được một trú xứ có khí hậu mát mẻ, ẩm thực đầy đủ, không xa xóm làng cũng không quá gần xóm làng, có thiện hữu tri thức, nỗ lực tu tập mà vẫn không đắc định thì phải nhờ đến mười thiện xảo trong sự đắc định an chỉ như sau: 1-Làm sạch nội, ngoại xứ. 2- Duy trì sự quân bình giữa các căn. 3- thiện xảo về tướng. 4- Nỗ lực đúng lúc nỗ lực. 5- Chế ngự tâm lúc đáng chế ngự. 6- Khích lệ tâm lúc đáng khích lệ. 7- Nhìn tâm với thái độ xả khi cần nhìn với xả. 8- Tránh những người không định tĩnh. 9- Gần những người định tĩnh. 10- Quyết tâm đối với định.

1. Làm sạch nội, ngoại xứ là giữ cho thân thể và quần áo sạch sẽ.
2. Duy trì các căn là làm quân bình năm căn tín, tấn, niệm, định và tuệ. Vì khi bất cứ một căn nào trở nên quá mạnh thì những căn khác không phát huy được tác dụng cửa nó. Chẳng hạn một người có tín nhiều, tuệ ít thì tư tưởng thiếu phán đoán, thiếu căn cứ. Còn một
người tuệ nhiều mà ít tín thì dễ phát sinh ra ngôn cuồng cũng như người bị lạm thuốc rất khó chữa trị. Mỗi người định nhiều, tấn ít, thì dễ sinh giải đãi; một người tấn nhiều, định ít, thì dễ sinh trạo cử. Nhưng nếu định quaan bình với tấn, thì không rơi vào giải đãi, và tinh tấn cân đối với định thì không rơi vào trạo cử. Tuy nhiên, niệm mới là yếu tố cần thiết nhất trong mọi trường hợp, vì nó có khả năng thiết lập sự cân bằng giữa các căn khác.
   3.Thiện xảo về tướng là sự khéo léo làm phát sinh tướng nhất tâm qua biến xứ đất.
   4.Nỗ lực tâm khi cần nỗ lực là khi tâm giải đãi thì hành giả nên tu tập trạch pháp, tinh tấn và hỷ. Có bảy pháp trợ duyên cho Trạch pháp giác chi: 1. Đặt câu hỏi; 2. Làm sạch nội, ngoại xứ; 3. Quân bình các căn; 4. Tránh những kẻ thiếu trí tuệ; 5. Thân cận người có trí; 6. ôn lại những tri kiến đã thủ đắc; 7. Quyết định đối với trạch pháp.
Đồng thời có mười một pháp trợ duyên cho tinh tấn giác chi như sau: 1. Ôn lại sự khủng khiếp của các đọa xứ; 2. Thấy lợi ích trong sự đạt đến những điều thù thắng thuộc thế gian và xuất thế gian; 3. Thấy rõ con đường mình đi cũng chính là con đường mà chư Phật đã đi; 4. Phải tỏ ra xứng đáng với những đồ khất thực; 5. Nhớ đến tính cách vĩ đại của đức Đạo Sư; 6. Nghĩ đến sự cao cả của chánh pháp; 7. Dùng quán tưởng để đoạn trừ hôn trầm triền miên; 8. Tránh những kẻ biếng nhác; 9. Gần những người siêng năng; 10. Ôn lại tứ chánh cần; 11. Quyết định đối với tinh tấn.
Lại có mười một pháp trợ duyên cho Hỷ giác chi: 1.
Niệm Phật; 2. Niệm Pháp; 3. Niệm Tăng; 4. Niệm giới; 5. Niệm thí; 6. Niệm Thiên; 7. Niệm sự bình an; 8. Tránh gần người thô lỗ; 9. Gần người tao nhã; 10. Đọc lại những khích lệ; 11. Quyết tâm đối với hỷ.
   5. Chế ngự tâm lúc cần chế ngự la khi tâm ( dao động) thì cần tu tập khinh an, định và xả giác chi. Vì một tâm giao động nhờ những pháp nầy mà được định tĩnh. Theo luận chủ có bảy pháp trợ duyên cho khinh an giác chi như sau: 1. Dùng thực phẩm bậc thượng; 2. Ở nơi khí hậu tốt; 3. Giữ tư thế thoải mái, dễ chịu; 4. Làm theo trung đạo; 5. Tránh kẻ hung hăng, bạo động; 6. Gần gũi kẻ thân hành an tịnh; 7. quyết tâm đối với sự khinh an.
Đồng thời có mười một pháo trợ duyên cho định giác chi: 1. Làm sạch nội ngoại xứ; 2. Thiện xảo về tướng; 3. Quân bình các căn; 4. Chế ngự tâm khi cần chế ngự; 5. Tu tập tâm lúc cần tu tập; 6. Khích lệ tâm bằng niềm tin và ý thức về cái chết; 7. Nhìn mọi sự xảy ra với thái độ xả; 8. Tránh những kẻ không định tĩnh; 9. Gẫn gũi những định tĩnh; 10. Ôn tầm các thiền và giải thoát; 11. Quyết tâm đối với định.
Lại có năm pháp trợ duyên cho xả giác chi: 1. Giữ thái độ xả đối với hữu hình; 2. Xả đối với các hành ( loài vô tình); 3. Tránh những bảo thủ cố chấp; 4. Gần gũi người ưa hỷ xả; 5. Quyết tâm đối với xả.
    6. Khích lệ tâm lúc cần khích lệ là hành giả nên tự cảnh tỉnh về nỗi khổ sinh, già, bệnh, chết, và những nỗi khổ khác.
 7. Nhìn tâm với thái độ xả khi cần nhìn là hành giả khi thấy có tiến bộ phải giữ tâm một cách bình thản, an tịnh.
 8. Tránh những người không định tĩnh là tránh những kẻ đa đoan, hiếu sự, tâm trí tán loạn.
 9. Gần gũi người định tĩnh là nên gần gũi những người xuất ly, đã đắc định.
10. Quyết tâm đối với định, tức xem định là yếu tố quan trọng, luôn luôn hướng tâm về định.
Khi hành giả hướng tâm tu tập theo những cách kể trên thì sẽ phát sinh bốn hoặc năm tốc hành tâm sau đây: tâm chuẩn bị; tâm cận hành; tâm thuận thứ; tâm chuyển tánh; tâm an chỉ. Hoặc bỏ bớt tâm chuẩn bị còn lại bốn tâm.

SƠ THIỀN

Đến đây, “hành giả hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Sơ thiền, có tầm, có tứ, với hỷ lạc do ly dục sinh; từ bỏ năm pháp, đạt được năm pháp, tốt đẹp ở ba phương diện, có mười đặc tính, và Sơ thiền nầy thuộc biên xứ đất.”
Hoàn toàn ly dục, nghĩa là thoát khỏi mọi dục vọng, vì dục là cái đối nghịch với Sơ thiền. Nếu có dục thì không thể đắc Sơ thiền, cũng như có tối thì không có sáng. Danh từ “ dục” bao gồm nhiều thứ; đó là dục kể như đối tượng, tức là những sắc pháp dễ ưa thích, và dục kể như cấu uế như Vibhanga nói: “ Đam mê là dục, thèm muốn là dục, khát khao là dục”.
Ở đây, cũng nên nói hiểu thêm về ý nghĩa của dục. Chữ dục thường dùng để dịch các thừ chanda, kàma và raga.
Chanda rất thông dụng,có nghĩa là hăng say, ham muốn tốt hoặc xấu. Kàma chỉ chung ngũ dục thuộc dục giới, còn theo nghĩa hẹp là dâm dục. Nếu kàma kết hợp với chanda thì thành ra kàmacchanda nghĩa là dục tham. Ràga là ham muốn, thèm khát theo ý xấu.
Ly bất thiện pháp là xa lìa các triền cái khác ngoài dục. Như vậy, ly dục có nghĩa là từ bỏ cái nhân của tham, còn ly bất thiện pháp là từ bỏ cái nhân của si. Ly dục là thanh tịnh thân nghiệp, ly bất thiện pháp là thanh tịnh ý nghiệp. Nói cách khác, ly dục tức là thân viễn ly còn ly bất thiện pháp tức là tâm viễn ly.
Chứng (upassampajja) là đạt đến, là thể nhập, đến nơi, sờ chạm, thực hiện.
Trú (viharati) là an trú trong tư thế thích hợp đối với cấp thiền đã đạt được.
Sơ thiền là cấp thiền đầu tiên đối với các cấp bậc khác.
Ở trên nói đạt được năm pháp tức chỉ cho 5 thiền chi là tầm, tứ, hỉ, lạc và nhất tâm.
Có Tầm (vitakka) là trạng thái hướng tâm đến một đối tượng; nhiệm vụ nó là đập mạnh vào.
Có Tứ (vicàra) là tư duy được nâng lên cao độ. Đặc tính của nó là liên tục nhấn mạnh vào đối tượng. Nhiệm vụ của nó là khiến cho những tâm pháp đều tập trung trên đối tượng.
Ví dụ về Tầm và Tứ:
Mặc dù Tầm và Tứ không rời nhau, nhưng Tầm có nghĩa là sự xúc chạm đầu tiên của tâm với đối tượng,
như đánh lên một tiếng chuông. Còn Tứ là buộc tâm vào một chỗ, như rung chuông.
Hơn nữa, Tầm được ví như bàn tay nắm chặt cái đĩa kim loại được hoen rỉ, còn Tứ như bàn tay chà xát cái đĩa ấy bằng một mãnh dẻ tẩm dầu.
Hoặc khi vẽ một cái vòng tròn thì cây kim cố định giữa trung tâm ví như Tầm, cây kim di động vòng quanh cái tâm điển đó gọi là Tứ. Sơ thiền được xảy đến cùng lúc với Tầm và Tứ nên được gọi là “ Câu hữu với tầm tứ”.
Hỷ là trạng thái tươi tỉnh, mát mẻ. Nó gồm có năm cấp bậc từ thấp đến cao: tiểu hỷ; hỷ như chớp nhoáng; hỷ như mưa rào; hỷ nâng người lên và hỷ sung mãn.

- Tiểu hỷ chỉ có thể là dựng lông tóc trong người mà thôi.
- Hỷ như chớp nhoáng thỉnh thoảng lóe lên.
- Hỷ như mưa rào nổi trên cơ thể liên tục, như sóng vỗ vào bờ.
- Hỷ nâng người lên có thể làm cho cơ thể mất trọng lượng và bay bổng lên.
- Hỷ sung mãn là toàn thân được thấm nhuần, như cái chai đổ đầy nước.

Năm thứ hỷ nói trên, khi được làm cho chin muồi thì sẽ viên mãn hai thứ khinh an và thâm khinh an và tâm khinh an. Khinh an được làm cho chin muồi sẽ viên mãn hai thứ lạc là thân lạc và tâm lạc. Lạc được ấp ủ làm cho chín muồi, sẽ viên mãn ba thứ định chốc lát, định cận hành và định an chỉ.
Lạc (sukha) là sự hài long, sự hạnh phúc. Đặc tính của nó là làm thỏa mãn. Dụng của nó là tăng cường độ các pháp tương ứng. Tướng của nó là sự hỗ trợ.
Khi hỷ lạc được liên kết, thì hỷ có nghĩa “hài lòng khi đạt được điều mong ước”, còn lạc là “kinh nghiệm thực thụ đối với điều đã đạt được”. Có hỷ tất nhiên có lạc, nhưng có lạc thì không nhất định có hỷ. Hỷ thuộc thành uẩn, lạc thuộc thọ uẩn. Lúc một người khát nước kiết sức trên sa mạc mà thấy được vũng nước ven rừng người ấy sẽ có hỷ, nếu người ấy đi đến uống nước ấy thì sẽ có lạc.
Từ bỏ năm pháp, tức là từ bỏ năm triền cái (tham, sân, hôn trầm,trạo hối và nghi). Mặc dù lúc đắc thiền, các pháp bất thiện khác cũng được từ bỏ, nhưng chỉ có năm pháp nầy là đặc biệt chướng ngại đối với thiền.
Đạt được năm pháp , tức là khởi lên Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất tâm.
Khi tâm bị tham dục chi phối do thèm muốn các đối tượng sai khác, thì không thể tập trung vào một đối tượng duy nhất. Khi tâm bị nhiễm độc bởi sân thì không thể sinh khởi hỷ lạc. Khi tâm bị hôn trầm, thùy miên chi phối, thì rất khó điều phục. Khi bị trạo hối quấy nhiễu, thì tâm trở nên bất an, lăng xăng. Khi hoài nghi nổi lên thì tâm không thể bước lên đạo lộ để đắc thiền.
Dùng 5 thiền để chi phối 5 triền cái.

Thiền chi                                            Triền cái
Tầm                đối trị                           hôn trầm
Tứ                   đối trị                           nghi
Hỷ                   đối trị                           sân
Lạc                  đối trị                           trạo hối (cử)
Nhất tâm(định)đối trị                           tham dục.
Những ví dụ về năm triền cái:
Tham dục được ví dụ như một tô nước có trộn lẫn các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Sân được ví như một nồi nước đang đung sôi sung sục. Hôn trầm được ví như một hồ nước bị rong rêu che phủ. Trạo hối được ví như một hồ nước bị gió chao làm cho nổi sóng. Nghi được ví như một hồ nước bị khuấy bùn đục ngầu13.
Tốt đẹp ở ba phương diện là chỉ cho ba giai đoạn đầu, giữa và cuối. Ở sơ thiền, sự thanh tịnh đạo lộ là chặng đầu; sự tăng trưởng xả là chặng giữa và sự toại ý là chặng cuối.
Có mười đặc tính là chặng đầu có ba, chặng giữa ba và chặng cuối bốn.
Chặng đầu ba đặc tính là: tâm được lọc sạch chướng ngại do thiền; nhờ lọc sách nó chuẩn bị cho trạng thái quân bình ở chặng giữa, tức tịnh chỉ tướng, nhờ tâm đã chuẩn bị, nên dễ thể nhập trạng thái ấy.
Chặng đường ba đặc tính là: hành giả bấy giờ, với trạng thái xả, nhìn tâm đã được thanh lọc; nhìn tâm đã được chuẩn bị cho tịnh chỉ; và nhìn sự xuất hiện của nhất tướng.
Chặng cuối có bốn đặc tính là: toại ý vì không có sự quá độ nào trong các pháp khởi lên; toại ý vì các căn chỉ có một nhiệm vụ duy nhất; toại ý vì sự nổ lực đã có kết quả; toại ý với nghĩa lý thuần thục. Đó là mười đặc tính khi một hành giả đã đạt được Sơ thiền.
______________________
13 Tương Ưng bộ kinh, Chương II, phẩm VI, mục 55, tr. 126-129.
Khi hành giả đã làm chủ sự tác ý, làm chủ sự chứng đắc, làm chủ sự quyết định, làm chủ sự xuất định và làm chủ sự quán sát, thì lúc xuất khỏi Sơ thiền đã trở nên quen thuộc. Vì nầy có thể quàn những khuyết điểm của nó như sau: “Thiền nầy bị đe dọa vì gần như các triền cái, và các thiền chi còn yếu do bởi tầm, tứ còn thô”. Hành giả có thể nghĩ đến Nhị thiền là an tịnh hơn; do đó, chấm dứt bám víu vào Sơ thiền, mà khới sự làm những gì cần thiết để đạt đến Nhị thiền.

NHỊ THIỀN

Đến đây, “hành giả làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng là trú Nhị thiền, nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỷ và lạc do định sinh; vị ấy từ bỏ hai pháp, có được ba pháp, tốt đẹp ở ba phương diện, có mười đặc tính và thuộc biến xứ đất”.
Làm tịnh chỉ tầm và tứ, nghĩa là làm cho tầm và tứ lắng xuống, vượt qua Tầm và Tứ, hai thiền chi này không có mặt ở nhị thiền.
Nội tĩnh nhất tâm: Nội tâm phát xuất từ nội tâm. Tĩnh là làm cho tâm an ổn với niềm tin, làm lắng dịu sự dao động. Nhất tâm là làm tâm thuần nhất, vững chãi, là sự tập trung cao độ. Từ nầy chỉ cho định.
Có hỷ và lạc như đã giải thích ở Sơ thiền.
Do định sinh, nghĩa là sinh từ định của Sơ thiền, hoặc sinh từ đinh tương ứng.
Từ bỏ hai pháp là từ bỏ tầm và tứ.
Có được ba pháp là có hỷ, lạc và nhất tâm.
Những gì còn lại cũng giống như đã nói ở Sơ thiền.
khi hành giả đã nhuần nhuyễn đối với Nhị thiền, dần dần nó sẽ thấy rõ Nhị thiền còn có những khuyết điểm. Do đó, hướng đến Tam thiền.

TAM THIỀN

Đến đây, “Hành giả ly hỷ, trú xả, chánh niệm tĩnh giác, thân cảm thọ lạc, một trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố là “Có xả và chánh niệm, trú trong an lạc”, và vị này đạt đến Tam thiền, từ bỏ một pháp, có được hai pháp, tốt đẹp ở ba phương diện, có mười đặc tính và thuộc biến xứ đất.”
Ly hỷ là vượt qua, làm rơi rụng hỷ ở Nhị thiền.
Trú xả (Upekkha-xả) có nghĩa là ngắm nhìn sự vật khi chúng xảy ra một cách thản nhiên, không thêm không bớt, không thành kiến. Khái niệm xả này gồm có 10 thứ: Xả thuộc 6 căn; Xả thuộc 4 phạm trú; Xả kể như một giác chi; Xả về tinh tấn; Xả về hành uẩn; Xả về thọ uẩn; Xả thuộc tuệ; Xả kể như tính tập trung đặc biệt; Xả ở thiền; và Xả kể như sự thanh tịnh.

- Xả thuộc sau căn, là xả ở một vị đã đoạn tận lậu hoặc.
- Xả kể như một phạm trú, là thái độ bình đẳng đối với mọi loài chúng sinh.
- Xả kể như một giác chi, là trạng thái trung tính.
- Xả về tinh tấn, là trạng thái không quá tinh cần, cũng không quá biếng nhác.
- Xả thuộc hành uẩn, là thái độ thản nhiên đối với những triền cái.
- Xả về thọ uẩn, là tình trạng không lạc không khổ.
- Xả thuộc tuệ, là tính cách trung lập đối với sự suy đạt.
- Xả kể như tính trung lập đặc biệt, là một trong bốn pháp thuộc bất định pháp.
- Xả thuộc thiền, là tính vô tư bình đẳng.
- Xả kể như sự thanh tịnh, là loại xả nhờ đã được tịnh chỉ hết các đối lập.

Tóm lại, Xả nầy có đặc tính là trung tính; Nhiệm vụ nó là không can dự. Nó được biểu hiện bằng vô dục. Nhân gần của nó là sự từ bỏ hỷ. Đó là giải thích về Xả. Sau đây, tiếp tục giải thích các vấn đề ở trên.
Chánh niệm tỉnh giác: Vị ấy nhớ lại (sarati) nên gọi là chánh niệm (sati); có sự giác tĩnh toàn vẹn, nên gọi là tỉnh giác (sampajàna). Mặc dù chánh niệm và tỉnh giác nầy cũng hiện hữu ở hai thiền đầu, nhưng chưa rõ rệt lắm.
Thân cảm thọ lạc là vị này cảm thấy lạc liên hệ đến thân thể, và sau khi xuất thiền vẫn còn lạc.
Tam thiền là theo thứ tự thiền này được chứng vào hàng thứ ba.
Từ bỏ một pháp, có hai pháp là từ bỏ hỷ, khởi lên lạc và nhất tâm. Đây là những yếu tố căn bản của thiền thứ ba này. Nhưng hành giả tu tập thiền đến độ thuần thục, dần dẫn sẽ nhận ra thiền này vẫn còn khuyết điểm, nên hướng tâm đền thuyền thứ tư.

TỨ THUYỀN
Bước sang giai đoạn này “Với sự từ bỏ lạc và khổ, với sự biến mất từ trước của hỷ và ưu, vị này chứng và
trú Tứ thiền, không khổ, không lạc, có sự thanh tịnh của niệm nhờ xả”. Và như vậy, hành giả đắc Tứ thiền, từ bỏ một pháp, tốt đẹp ở ba phương diện, có mười đặc tính và thuộc biến xứ đất.
Với sự từ bỏ lạc và khổ là từ bỏ lạc và khổ của thân.
Với sự biến mất của hỷ và ưu là sự biến mất lạc và khổ của tâm. Từ trước là không phải ở giai đoạn Tứ thiền mới xảy ra.
Không khổ không lạc: Không khổ vì vắng mặt thân khổ; Không lạc vì vắng mặt thân lạc. Bằng câu này, luận chủ nêu lên loại cảm thọ thứ ba trái ngược hẳn với khổ và lạc, chứ không phải chỉ có sự vắng mặt của khổ và lạc mà thôi. Do đó, không khổ không lạc còn gọi là xả.
Còn sự thanh tịnh của niệm nhờ xả: Còn có sự thanh tịnh của niệm phát sinh do xả. Vì niệm trong thiền này hoàn toàn thanh tịnh.
Từ bỏ một pháp, có được hai pháp là từ bỏ lạc, có được xả-kể như cảm thọ-và nhất tâm. Đây là những yếu tố căn bản của thiền thứ tư này.
Những vấn đề còn lại như Sơ thiền đã được giải thích.

Tóm lại, trải qua các giai đoạn như Sơ thiền đến thứ tư, dần dần các yếu tố được loại trừ và còn lại như sau:
- Sơ thiền bỏ 5 triền cái, được 5 thiền chi.
- Nhị thiền bỏ tầm tứ, còn lại hỷ, lạc và nhất tâm.
- Tam thiền bỏ hỷ còn lại lạc và nhất tâm.
- Tứ thiền bỏ lạc còn lại nhất tâm và xả.
HỆ THỐNG NĂM THIỀN

Ngoài ra, còn có một số luận sư còn chủ trương hệ thống năm thiền. Hệ thống này chỉ khác hệ thống bốn thiền ở chỗ chia thiền thứ hai thành ra hai cấp, như bảng so sánh sau đây:

Hệ thống 4 thiền                                                                    Hệ thống 5 thiền                                                                                                                                                                          
1. Sơ thiền (có 5 thiền chi)                                                 = Sơ thiền.               
2.Nhị thiền (bỏ tầm và tứ)                                                  = Nhị thiền (chỉ bỏ tầm).
                                                                                            = Tam thiền (bỏ tứ).
3. Tam thiền (bỏ hỉ)                                                           = Tứ thiền.
4. Tứ thiền (bỏ lạc)                                                           = Ngũ thiền.
 
***
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »