Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 21: Chương 2: Mô tả về xứ và giới (Trang 191 - 194)


Chương 2

MÔ TẢ VỀ XỨ VÀ GIỚI
( Aryatana- Dhàtu- Niddesa)

A. MÔ TẢ VỀ XỨ
Xứ gồm có 12 thứ: 1. Nhãn xứ; 2. Sắc xứ; 3. Nhĩ xứ; 4. Thanh xứ; 5. Tỉ xứ; 6. Hương xứ; 7. Thiệt xứ; 8. Vị xứ; 9. Thân xứ; 10. Xúc xứ; 11. Ý xứ; 12. Pháp xứ.
Ý nghĩa của chúng như sau:
1. Nhãn xứ (cakkhu) là cái thưởng thức sắc pháp.
2. Sắc xứ (rùpa) là cái làm cho thấy được.
3. Nhĩ xứ (sota) là cái nghe.
4. Thanh xứ (sadda) là cái được truyền đi.
5. Tỉ xứ (ghàna) là cái ngửi.
6. Hương xứ (gandha) là cái được ngửi.
7. Thiệt xứ (jivhà) là cái gợi lên đời sống.
8. Vị xứ ( rasa) là cái chúng sinh thưởng thức.

9. Thân xứ ( kàya) là nguồn gốc của các pháp xấu xa chịu chi phối bởi lậu hoặc.
10. Xúc xứ (phasso) là cái bị sờ chạm.
11. Ý xứ (mano) là cái đo lường.
12. Pháp xứ (dhamma) là cái khiến cho tự tính nó được duy trì.

Ở đây, Xứ có nghĩa là trú xứ, chỗ gặp gỡ, chỗ phát xuất, là nguyên nhân. Trong 12 xứ nầy gồm cả danh và sắc, ý xứ là một phần của pháp thuộc về danh, còn lại các cái khác đều là sắc.
Khi mắt và sắc pháp gặp nhau thì nhãn thức sinh khởi, do thế, con mắt thường bị các sắc pháp đáng ưa và khó chịu nhiễu loạn. Thế nên, sáu nội xứ được ví như sáu con vật, và sáu ngoại xứ được ví như chỗ lui tới của sáu con vật ấy.

B. MÔ TẢ VỀ GIỚI
Tiếp theo uẩn, xứ là Giới23 gồm có mười tám thứ: Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới, tỉ giới, hương giới, tỉ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới.
Về ý nghĩa riêng biệt, xem lại ở trên, còn ý nghĩa tổng quát thì Giới có nghĩa: lựa riêng ra, thích hợp với, được mang theo. Vì giới là thành tố của tri thức và cái khả tri. Giới là một danh từ dùng để chỉ cái không có tự ngã.
Hai thứ nhãn giới và sắc giới là nhân, còn nhãn thức
______________
23Xem chương I, thuộc phần Tuệ.
giới là quả. Vì căn (nhãn giới), trần (sắc giới) đối nhau, mà thức (nhãn thức giới) phát sinh.
Các kinh luận thường đề cập đến nhiều loại giới khác nữa như dục giới, sắc giới… địa giới, thủy giới v.v…, nhưng về phương diện tự tính, thì tất cả giới hiện hữu đếu không ngoài mười tám loại nầy. Mười bảy giới trước và một phần của pháp giới là giới hữu vi, nhưng phần còn lại của pháp giới là giới vô vi.
Đức Phật vì muốn đoạn trừ sự chấp ngã sai lầm của chúng sinh, tưởng rằng có một cái ngã bền chắc, thường hằng, nên mới nói đến mười tám giới.
Về phương diện chúng làm duyên cho nhau, thì cổ đức dạy:
“Nhãn thức sinh do duyên mắt, sắc pháp, ánh sáng và sự chú ý. Nhĩ thức sinh do duyên lỗ tai, tiếng, khoảng trống và sự tác ý. Tỉ thức sinh do duyên lưỡi, mùi, không gian và sự tác ý. Thiệt thức sinh do duyên lưỡi, vị, nước và sự tác ý. Thân thức sinh do duyên thân, chạm xúc, địa giới và tác ý. Ý thức sinh do duyên tâm hữu phần, pháp và tác ý.”
Tất cả pháp hữu vi cần được xem như tách biệt với quá khứ và vị lai, là trống rỗng, không có tự ngã, và chúng hiện hữu tùy thuộc các duyên (điều kiện). Để làm sáng tỏ vấn đề, bản luận dùng các ví dụ như sau:
Nhãn giới ví như cái mặt trống, sắc giới ví như dùi trống, và nhãn thức giới ví như tiếng trống.
Hoặc, nhãn giới ví như mặt gương, sắc pháp ví như cái mặt, và nhãn thức giới ví như hình ảnh cái mặt phản
chiếu trong gương.
Nhưng ý giới thì như kẻ tùy tùng theo sau nhãn thức giới, xong lại là kẻ đi trước ý thức giới. Còn ý thức giới thì như con khỉ chuyền trên cành cây, không bao giờ ở yên một chỗ, hay như một vũ công trên sân khấu.
Chương II nầy mô tả Xứ và Giới, trong sự tu tập về Tuệ, đến đây là hoàn tất.



 
***
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »