Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 28: Chương 9: Tri kiến thanh tịnh (Trang 247 - 258)


Chương 9

TRI KIẾN THANH TỊNH
( Nanadassana-visuddhi-Niddesa)

 

Sau phần trình bày về Đạo tri kiến thanh tịnh, giờ đây đề cập đến Tri kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh này sẽ được trình bày qua hai phần. Phần đầu mô tả khái quát về bốn đạo và bốn quả, phần hai nói đến những pháp tương ưng với các đạo lộ.
I. BỐN ĐẠO VÀ BỐN QUẢ
1.Dự lưu đạo ( Dự lưu hướng, Tu đà hoàn hướng)
Kế tiếp Trí Thuận Thứ là Trí Chuyển Tánh, Trí này sinh khởi nơi hành giả, khiến vị ấy ra khỏi lãnh vực phàm phu, đi vào dòng Thánh, nghĩa là rời khỏi, sinh, già, bệnh, chết v.v..., đi vào tịch diệt, Niết bàn, nên gọi là chuyển tánh. Bản luận cho biết, Trí Thuận Thứ có thể xua tan mây mù phiền não che lấp sự thật nhưng không thể làm cho Niết bàn hiển lộ. Trái lại, Trí Chuyển Tánh



thì chỉ có thể làm cho Niết bàn hiển lộ mà lại không thể xua tan mây mù phiền não che lấp chân lý. Trí Chuyển Tánh nầy thuộc phạm vi Dự lưu đạo ( hay Dự lưu hướng). Khi hành giả đi vào Dự lưu đạo nầy sẽ từ bỏ được năm Hạ phần kiết sử là: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Hai yếu tố sau, chỉ từ bỏ phương diện thô nhưng về mặt vi tế vẫn còn.
Để làm rõ giai đoạn Chuyển Tánh từ phàm đến thánh, bản luận nêu ví dụ: Như một người có mắt ban đêm ra ngoài, ngước lên bầu trời nhìn trăng nhưng không thấy được trăng vì bị mây che phủ. Rồi một ngọn gió nổi lên, thổi tan đám mây dày, một ngọn khác thổi tan đám mây mỏng hơn, và một ngọn khác nữa làm tan cả những sợi mây mong manh còn lại. Bây giờ, người kia mới thấy rõ mặt trăng ở trên bầu trời không mây.
- Trong ví dụ trên, ba loại mây dày, mỏng và mấy sợi mong manh là ví cho ba loại cấu uế dày, trung bình và mỏng che lấp sự thật.
- Ba ngọn gió là chỉ cho ba loại trí thuận thứ.
- Và mặt trăng dụ cho Niết bàn.
- Người có mắt dụ cho Trí chuyển tánh.
Những ngọn gió tuần tự thổi tan các đám mây là ví như các loại trí Thuận thứ lần lượt xua tan bóng tối che lấp chân lý. Thế nhưng, ba ngọn gió chỉ có thể thổi tan mây che khuất mặt trăng mà không thể thấy mặt trăng. Trái lại, người kia chỉ có thể thấy mặt trăng mà không thể thổi tan những đám mây. Cũng thế, Trí chuyển tánh chỉ có thể thấy Niết bàn mà không thể dẹp tan phiền não.
2. Dự lưu quả (Tu đà hoàn quả)
Kế tiếp ngay Trí Chuyển Tánh, sẽ khởi lên hai hoặc ba quả tâm. Bấy giờ hành giả quán sát đạo lộ về năm phương diện:
(1). ”Đây là Đạo lộ ta đã gặp”.
(2). Tiếp đến, hành giả quán sát quả như sau: ”Đây là sự an lạc ta đã được”.
(3). Rồi quán sát tiếp: ”Đây là những cấu uế ta đã từ bỏ”.
(4). Lại tiếp tục quán sát: ”Đây là các cấu uế còn lại trong ta”.
(5). Và cuối cùng, hành giả quán sát Niệt bàn bất tử như sau: ”Đây là pháp đã được ta thâm nhập”.
Như vậy, là năm thứ quán sát của một bậc thánh đã đạt được Quả Dự lưu. Đến đây, vị thánh nầy chỉ còn qua lại vòng sinh tử ở cõi trời và cõi người đến bảy lần nữa là tối đa. Thế nên, vị nầy còn được gọi là vị Thất lai.
1. Nhất lai đạo (Nhất lai hướng, Tư đà hàm hướng)
Sau khi quán sát như trên, vị nầy làm tê liệt (muội lược) dục tham và sân nhuế, đạt đến đạo lộ thứ hai, tức Nhất lai đạo hay Nhất lai hướng.
2. Nhất lai quả (Tư đà hàm quả)
Sau khi thành tựu đạo lộ như trên, vị nầy đạt được quả Nhất lai và chỉ còn tái sinh một lần nữa trong nhân gian mà thôi.
3. Bất hoàn đạo (Bất hoàn hướng, A na hàm hướng)
Tiếp tục quán sát như trên, đến đây vị nầy đoạn tận cả tham (thuộc Dục giới) và sân, làm cho chúng không
còn dư tàn nữa, đạt được đạo lộ bất hoàn, tức Bất hoàn đạo, và cái trí tương ưng với đạo lộ ấy gọi la Bất hoàn đạo trí.
6. Bất hoàn quả (A na hàm quả)
Các quả tâm theo liền sau trí nầy như đã nói ở trên. Vị nầy sau khi mệnh chung sẽ nhập Niết bàn, hay còn lưu cư ở cõi Tịnh cư thiên, chứ không bao giờ trở lại cõi thế gian nầy nữa, và đây là quả Bất hoàn hay quả A-na-hàm.
7. A la hán đạo (A la hán hướng)
Đến đây, vị nầy vận dụng trí tuệ quán sát để đoạn trừ năm Thượng phần kiết sử là: Sắc tham, Vô sắc tham, Mạn, Trạo cử và Vô minh, làm cho chúng không còn một chút dư tàn nào nữa, đạt được A-la-hán đạo. Vì trí nầy tương ưng với đạo lộ hướng đến A-la-hán, nên gọi là A-la-hán đạo trí.
8. A-la-hán quả (Vô sinh quả)
Các quả tâm theo liền đạo trí vừa nói, và vị nầy trở thành một bậc thánh đã đoạn tận các lậu hoặc, thân của vị nầy là thân sau rốt, gánh nặng đã đặt xuống, việc làm đã hoàn tất, đã phá sạch hữu kiết sử, đạt được giải thoát viên mãn, xứng đáng nhận được sự cúng dường tối thượng của thế gian và chư thiên. Và quả vị nầy gọi là quả A-la-hán, hay quả Vô sinh.
Nói chung, các luận thường gọi đạo quả nầy là tứ song bát bối (4 đôi, 8 chúng) tức là: Tu đà hoàn đạo, Tu đà hoàn quả; Tư đà hàm đạo, Tư đà hàm quả; A-na-hàm đạo, A na hàm quả; A-la-hán đạo và A-la-hán quả.
 
II. CÁC PHÁP TƯƠNG ƯNG VỚI ĐẠO LỘ
Bây giờ, để thẩm định giá trị của tri kiến thanh tịnh nầy đối với bốn loại trí của nó, có những vấn đề cần trình bày sau đây: (1) Sự viên mãn các bồ đề phần; (2) sự xuất khởi; (3) sự song hành các lực; (4) các pháp cần từ bỏ; (5) hành vi từ bỏ chúng; (6) các nhiệm vụ liễu tri; (7) các chức năng riêng biệt.
1. Sự viên mãn các bồ đề phần
Ở đây, các bồ đề phần gồm có 37 pháp, đó là: 4 niệm xứ; 4 chánh cần; 4 thần túc; 5 căn; 5 lực; 7 giác chi; và 8 Thánh đạo. Những pháp nầy trợ giúp hay dự phần vào sự giác ngộ, nên gọi là Bồ đề phần.
1/. Bốn Niệm xứ: Trước hết, đề cập đến bốn niệm xứ hay bốn Niệm trú. Trú (patthàna), tức là an trú, bằng cách thâm nhập vào những đối tượng nầy hay đối tượng khác. Sự an trú chính là niệm, nên gọi là niệm trú hay niệm xứ. Nó gồm có bốn phương thức quán niệm là: quán thân bất tinh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường và quán pháp vô ngã.
2/. Bốn Chánh cần: Hành giả dùng nó làm động cơ để nỗ lực một cách chánh đáng, nên gọi là Chánh cần, chánh cần cũng tức là nghị lực. Nó hoàn tất bốn nhiệm vụ: Trừ khử những bất thiện pháp đã sinh; ngăn ngừa sự sinh khởi của những pháp bất thiện; làm phát khởi những thiện pháp chưa sinh và duy trì các thiện pháp đã sinh.
3/. Bốn thần túc: Hay bốn như ý túc được kể là: Dục như ý túc; tinh tấn như ý túc; nhất tâm ( hay niệm) như ý túc, và trạch pháp như ý túc. Những yếu tố này là tiền
đạo trợ giúp hành giả đạt đến thắng trí, là căn bản của sự thành tựu.
4/. Năm căn: Căn là nói theo nghĩa tăng thịnh, hay thắng lướt các pháp cấu uế như bất tín, giãi đãi, thất niệm, tán loạn và bất chánh tri. Nó gồm có năm thứ là: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn.
5/. Năm lực: Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và tuệ lực. Căn là theo nghĩa làm cơ sở và lực là nói theo nghĩa tác dụng. Nghĩa là nhờ căn đó làm chỗ nương tựa mà phát huy được những hiệu quả hữu ích.
6/. Bảy giác chi: Niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và hành xả. Chúng được gọi là Giác chi vì chúng là những yếu tố giúp cho hành giả tiến đến giác ngộ, nên gọi là giác chi.
7/. Tám Thánh đạo hay Chánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Chúng mang ý nghĩa: một ngõ ra hay một lối thoát.
Như vậy, các pháp dự phần vào sự giác ngộ được kể là 37 pháp, và chúng được xếp theo các phương diện Thấn túc, Tín, Định, Tuệ, Niệm và Tinh tấn như sau:
- Về Thần túc gồm có chín: Dục, nhất tâm, hỉ, khinh an, xả, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.
- Về Tín gồm có hai thứ: căn và lực.
- Về Định gồm bốn thứ: Căn, lực, giác chi, và đạo chi.
- Về Tuệ gồm năm thứ: tức là bốn thứ như định kèm thêm như ý túc.
- Về Niệm gồm có tám thứ: tức tứ niệm xứ, một căn, một lực, một giác chi và một đạo chi.
- Về Tinh tấn gồm chín thứ: tức tứ chánh cần, một như ý túc, một căn, một lực. một giác chi và một đạo chi.
2. Sự xuất khởi
Ngoi lên khỏi tướng, từ bỏ tướng của các hành, làm cho Niết bàn hiện hữu. Hay, sau khi rời khỏi sinh, nó đi vào vô sinh, nên gọi là xuất khởi hay chuyển tánh.
3. Sự song hành các lực
Vào sát na thâm nhập thánh đạo, định tuệ song hành, không cái nào thắng lướt cái nào, tức là ở giai đoạn nầy, chỉ và quán hợp nhất cái thế quân bình.
4. Các pháp cần từ bỏ
Kiết sử: phiền não, tà kiến, thế gian pháp, tham, điên đảo, trói buộc, tà hạnh, lậu hoặc, bộc lưu, hệ phược, triền cái, tà giải, chấp thủ, tùy miên, cấu uế, bất thiện nghiệp, tác ý bất thiện, các pháp này cần phải từ bỏ.
Kiết sử: Gọi là Kiết sử, vì chúng trói buộc các uẩn trong đời nầy với các uẩn đời kế tiếp, hay trói buộc nghiệp với quả, hoặc trói buộc hữu tình vào đau khổ, nên gọi là kiết sử. Kiết sử gồm có hai loại và 5 thượng phần kiết sử: sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử và vô minh; 5 hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham (tham thuộc dục giới) và sân.
Phiền não: vì bản thân chúng là ô nhiễm, mà còn làm ô nhiễm các pháp tương ưng với chúng nên gọi là phiền não. Loại này gồm mười thứ; Tham, sân, si, mạn, tà kiến, nghi, hôn trầm, trạo cử, vô tàm, vô quí.
Tà kiến: Thấy biết một cách sai lầm, nên gọi là tà kiến, gồm có tám thứ: tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh, tấn, tà niệm, tà định; hoặc là mười thứ, nếu thêm tà trí và tà giải thoát. Chẳng hạn cho rằng giải thoát là đi đến  chỗ tận cùng của thế giới, đó gọi là tà giải thoát.
Thế gian pháp: Tám thứ: được, thua, vinh, nhục, vui, khổ, khen, chê, gọi là pháp thế gian, vì chúng cứ theo nhau tiếp diễn khi thế giới còn tồn tại.
Tham: Không chịu san sẻ quyền bính, lợi lộc v.v… với kẻ khác, gọi là tham. Loại này được kể thành năm thứ: chỗ ở, quyến thuộc, lợi lộc, pháp và tiếng khen.
Điên đảo: Vô thường cho là thường, khổ cho là vui, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là tịnh, như vậy là điên đảo, gồm có ba thứ: Tưởng điên đảo, tâm điên đảo và kiến điên đảo.
Trói buộc: Vì chúng buộc tâm lý vào với cái thân vật lý, nên gọi là trói buộc, gồm có bốn thứ: Tham, sân, giới cấm thủ và tà giải.
Tà hạnh: Làm những điều lẽ ra không nên làm, và không làm những điều lẽ ra phải làm nên gọi là tà hạnh, gồm có bốn thứ: tham, sân, si và sợ hãi.
Lậu hoặc: Vì những cấu uế nầy sinh khởi từ các căn môn không được phòng hộ, như nước từ bình rỉ ra, nên gọi là lậu hoặc, gồm có bốn thứ: Dục tham, hữu tham, tà kiến và vô minh.
Bộc lưu: Nghĩa là cuốn trôi, lùa vào biển sinh tử, và khó vượt qua, nên gọi là bộc lưu.
Hệ phược: Vì chúng không cho phép gỡ ra khỏi một đối tượng, hay nỗi đau khổ, nên gọi là hệ phược. Bộc lưu và hệ phược đều cùng nghĩa với lậu hoặc.
Triền cái: Chúng làm chướng ngại và che mờ tâm thức đối với thực tại, nên gọi là triền cái, gồm có năm thứ: Tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi.
Tà giải: Vì nó thấy một tự tính không thực,trái ngược với tự tính đích thực của các pháp, nên gọi là tà giải. Nó cùng nghĩa với tà kiến.
Chấp thủ: Gồm bốn loại là Dục thủ, Kiến thủ, Giới cấm thủ và Ngã luận thủ. Vì nó bám vào khoái lạc giác quan, tức sắc trần, nó vừa là dục vừa là chấp thủ nên gọi là Dục thủ29.
Tùy miên: Chúng tiềm ẩn một cách ngấm ngầm, nên gọi là tùy miên, gồm có bảy thứ: Dục tham, sân, mạn. tà kiến, nghi, hữu tham, và vô minh.
Cấu uế: Vì bản thân chúng đã dơ bẩn mà còn làm dơ bẩn những thứ khác, nên gọi là cấu uế, gồm có ba thứ: Tham, sân và si.
Bất thiện nghiệp: Vì bản thân chúng là những việc làm bất thiện, mà chúng còn tạo điều kiện để dẫn đến ác thú, nên gọi là bất thiện nghiệp, gồm có 10 thứ: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, ác khẩu, lưỡng thiệt, vọng ngôn, ỷ ngữ, tham, sân và tà kiến.
Tác ý bất thiện: Gồm có 12 thứ, 8 tâm gốc ở tham, 2 ở sân và 2 ở si, đã nói ở chương I.
________________
29Xem phần mô tả về duyên khởi, chương IV, thuộc phần Tuệ.
5. Hành vi từ bỏ
Khi thấy sự nguy hiểm của cấu uế, hành giả tìm cách đoạn trừ tinhg trạng tập khởi của chúng, tình trạng ấy là cái nhân của khổ. Khi cái nhân đã chấm dứt thì quả-tức là nỗi khổ- sẽ chấm dứt. Đó là phương thức từ bỏ hay đoạn trừ nguyên nhân của khổ đau.
6. Các nhiệm vụ liễu tri
Thấu triệt, đoạn trừ, chứng ngộ và tu tập về bốn chân lý. Cổ đức nêu ví dụ: “ Cũng như ngọn đèn làm bốn nhiệm vụ cùng lúc: Đốt cháy tim, xua tan bóng tối, làm xuất hiện ánh sáng, và tiêu thụ dầu”. Cũng vậy, đạo trí thể nhập bốn chân lý đồng thời trong một sát na duy nhất bằng cách: Thâm nhập khổ đế bằng thấu triệt, thâm nhập nguồn gốc của khổ bằng cách đoạn trừ, thâm nhập đạo bằng sự tu tập và thâm nhập diệt bằng chứng ngộ.
Tóm lại, đạo trí thấu triệt khổ, ví như ngọn đèn đốt cháy tim. Đạo trí đoạn trừ nguồn gốc của khổ, ví như ánh đèn xua tan bóng tối. Đạo trí tu tập đạo lộ ví như cây đèn làm ánh sáng xuất hiện. Đạo trí chứng diệt ví như ngọn đèn tiêu thụ dầu cho đến hết.
Hành giả quan sát, thấy rõ nghĩa chân thực của chân lý qua 16 khía cạnh, tức mỗi đế gồm bốn thứ.
- Khổ đế có bốn nghĩa: bức bách, hữu vi, đốt cháy và biến đổi.
- Tập đế có bốn nghĩa: tích lũy, nguồn gốc, trói buộc và chướng ngại.
- Diệt đế có bốn nghĩa: vượt thoát, viễn ly, vô vi và bất tử.
- Đạo đế có bốn nghĩa: lối ra, nguyên nhân, thấy và siêu việt.
7. Các chức năng riêng biệt
Bản luận nêu ra mười tám pháp quán dùng để đối trị trong khi tu tập như sau:
1. Quán vô thường để đoạn trừ thường tưởng.
2. Quán khổ để đoạn trừ lạc tưởng.
3. Quán vô ngã để đoạn trừ ngã tưởng.
4. Quán ly dục để đoạn trừ dục tưởng
5. Quán ly tham để đoạn trừ tham trước.
6. Quán diệt để đoạn trừ sinh.
7. Quán từ bỏ để đoạn trừ chấp thủ.
8. Quán tan hoại để đoạn trừ cái tưởng nguyên vẹn.
9. Quán tiêu vong để đoạn trừ tích lũy.
10. Quán biến đổi để đoạn trừ cái tưởng bền chắc.
11. Quán vô tướng để đoạn trừ các tướng.
12. Quán vô dục để đoạn trừ dục vọng.
13. Quán không để đoạn trừ tà giải.
14. Quán tăng thượng tuệ để đoạn trừ giải do chấp thủ.
15. Quán chánh kiến để đoạn trừ tà giải do mê mờ.
16. Quán các hành là nguy hiểm để đoạn trừ tà giải do bám víu.
17. Quán tư duy để đoạn trừ phi tư duy.
18. Quán xả ly để đoạn trừ tà giải do trói buộc.
Chương IX này nói về Tri kiến thanh tịnh, đến đây đã trình bày xong.

***
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »