Chương 7
ĐỊNH-CÁC PHẠM TRÚ
(Brahmavihàra-niddesa)
1. TỪ (METTÀ)
Những đề mục Thiền kế tiếp các tùy niệm là bốn Phạm trú, tức Từ, Bi, Hỷ và Xả. Trước hết hảy nói về Từ.
Một hành giả muốn tu tập đề mục thiền nầy trước hết phải trừ khử những chướng ngại và học kỷ về nó bằng cách quán sát những nguy hiểm của sân hận và lợi ích của sự kham nhẫn, như kinh đã dạy: “Không có pháp nào cao hơn nhẫn nhục, không có Niết bàn nào cao hơn kham nhẫn”19.
Theo luận chủ, lúc mới bắt đầu tu tập về tâm từ, hành giả nên tránh năm đối tượng sau đây: Người thân
___________________
19 Trường II, 94; Pháp cú 184.
kẻ thù; người dưng; người khác phái; và người đã chết.
- Đối với người thân thì tâm ta bị ràng buộc nặng nề về đời sống của họ.
- Đối với kẻ thù thì hành giả sẽ dễ nổi sân.
- Đối với người dưng, hành giả sẽ khó chú tâm.
- Đối với người khác phái, hành giả có thể khởi lên tham dục.
- Đối với người chết, hành giả quán niệm khó đạt được kết quả.
Thế nên, tốt nhất là hành giả nên trải tâm từ đến chính bản thân mình và lập đi lập lại như sau: “Mong rằng ta được an lạc, thoát khỏi mọi khổ ách”. Kế đến, hành giả nên trải tâm từ đến một giáo thọ sư hay một đồng giáo thọ sư với ước mong: “Mong rằng con người hiền thiện ấy được hạnh phúc an vui, thoát khỏi mọi khổ ách”. Hành giả áp dụng phương pháp quán từ tâm như thế rất dễ đạt đến định an chỉ. Khi pháp quán đã tiến triển thuận lợi, hành giả sẽ trải tâm từ đến một người thân, rồi đến một người dưng và cuối cùng là đến kẻ thù. (Xua tan tâm hận).
Nhưng nếu hành giả lấy kẻ thù làm đối tượng để quán từ tâm mà không thể xua tan được những sự hiềm hận đối với họ, thì nên suy nghĩ theo tinh thần Phật dạy:
“Hận thù diệt hận thù
Đời nầy không thể có
Từ bị diệt hận thù
Là định luật nghìn thu”.
(PC. 5)
Đồng thời tự cảnh tỉnh mình bằng cách suy nghĩ về những điều mà kẻ thù mong muốn cho kẻ thù mình như sau: “Mong rằng nó xấu xí, mong rằng nó ngủ trong đau khổ; mong rằng nó gặp điều bất hạnh; mong rằng nó bị nghèo khốn; mong rằng nó phải sống trong cô độc; mong rằng sau khi thân hoại mạng chung nó phải sinh vào cõi dữ, ác thú”. (A. IV. 94). Bởi vì, nếu ta để cho long hận thù cấu xé, thì ta sẽ ngủ không yê, thân thể trở nên xấu xí và do thế sẽ tự làm hại mình và làm cho kẻ thù được thỏa mãn mà thôi.
Theo chiều hướng suy nghĩ như vậy mà hận thù lắng dịu thì tốt, bằng không, hành giả nên xóa bỏ mối tức giận kia bằng cách nhớ lại ưu điểm nơi người ấy. Vì một người dù ngu si, xấu xa đến đâu cũng sẽ có được vài nét dễ mến.
Nhưng nếu sự tức giận vẫn khởi lê, mặc dù hành giả cố gắng, thì nên tự trách như sau:
“Cơn giận dữ chưa chắc hại ai
Nhưng chắc chắn hại người trước nhất.
Kẻ sân trước lên đường đau khổ người sân sau bén gót theo sau”.
Nếu hiền hận vẫn không giảm thì hành giả nên nghĩ đến sự thật “Mọi chúng sinh đều là kẻ thừa tự nghiệp quả của chúng” như sau: “Có lợi ích gì khi tức giận như vậy! Há chẳng phải nghiệp sân nầy của ngươi chỉ đưa đến tai hại cho ngươi? Vì ngươi là sở hữu chủ của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp. Ngươi giống như kẻ tay cầm cục than nóng đỏ, hay cục phân để đánh người, chưa gì, mà chính
mình đã cháy và hôi thối ghe tởm”. Lại nghĩ: “Kẻ tức giận ngươi sẽ ra sao? Có phải chung cuộc sẽ đưa đến tai hại cho chính nó? Điều đó có khác gì một người đứng ngược gió mà tung bụi vào kẻ khác, cuối cùng chỉ làm cho chính thân mình lấm bụi mà thôi”.
Kệ tóm tắt:
“Nếu hại người lương thiện
Người thanh tịnh vô nhiễm
Ác quá sẽ về ta
Như ngược gió tung bụi”.
(PC. 125)
Nhưng nếu hiềm hận vẫn không nguôi, thì hành giả nên nghĩ đến những đức những đức tính đặc biệt của đức Thế Tôn trong những tiền kiếp, như chuyên Bản Sinh Khanti-Vàdin kể lại: “Khi vua Kàsi ngu ngốc hỏi Ngài (đang là một tu sĩ): “Nầy sa-môn, ngươi giảng về pháp gì thế?” Ngài đáp: “Tôi là người giảng về pháp nhẫn nhục”. Nhà vua liền sai quân lính chặt hết tay chân Ngài, nhưng Ngài vẫn tự chế ngự, không khởi lên một niệm sân hận nào hết”. (Jà III, 39) Và còn biết bao chuyện Bản Sinh khác nói về hạnh nhẫn nhục, từ ái của Phật, khi thì Ngài làm tượng vương, khi thì làm long vương, khi thì làm khỉ chúa v.v… tất cả đều đáng cho chúng ta tìm hiểu để học về hạnh nhẫn nhục của đức Đại Sư.
Nhưng, nếu nghĩ những đức tính đặc biệt của Thế Tôn, mà hiềm hận vẫn không lắng dịu, thì hành giả nên đọc lại những kinh đề cập đến vòng sinh tử nối tiếp, như sau: “Nầy các Tỳ kheo, không dễ tìm thấy
một chúng sinh nào chưa từng là mẹ ngươi, cha ngươi, anh ngươi, chị ngươi, con trai, con gái ngươi”. (S.II. 189) Thế nên, hành giả hãy nghĩ về những người kia như sau: “Con người nầy trong quá khứ đã từng là mẹ ta, cưu mang ta suốt mười tháng trong bụng, chính tay đã rửa phân, tiểu, sài, đẹn của ta không chút nhờn gớm, nâng niu ta trên gối, ẵm bồng ta bên nách, nuôi nấng ta suốt cả tuổi ấu thơ…”, rồi nghĩ rằng người đó hoặc là cha, là anh, chị hay em ta v.v…,cũng bằng cách ấy.
Nhưng nếu vẫn không dập tắt được hiềm hận bằng cách ấy, thì hành giả nên gợi lại mười một lợi ích của long từ mà đức Thế Tôn đã dạy sau đây:
(1). “Người tu tập long từ sẽ ngủ trong an ổn;
(2). Thức trong an ổn;
(3). Không chiêm bao ác mộng;
(4). Được người khác yêu mến;
(5). Được phi nhân giúp đỡ;
(6). Được chư Thiên hộ trì;
(7). Lửa, khí giới và chất độc không làm hại được;
(8). Tâm dễ an định;
(9). Nét mặt thanh thoát;
(10). Khi chết tâm không rối loạn;
(11). Và nếu không được đạo quả gì cao siêu, thì ít nhất cũng được tái sinh về cảnh giới Phạm thiên”. (A.V. 342).
Nếu đã áp dụng phương pháp đó mà vẫn không hết tức giận, thì hành giả hãy phân tích chất vô ngã nơi người ấy, như sau: “Khi người tức giận kẻ kia, thì cái gì
nơi kẻ lấy làm cho ngươi tức giận? Người giận tóc, hay lông, hay móng… hay nước tiểu?” Nếu phân tích con người ấy, về tứ đại, ngũ uẩn, thập nhị xứ hay thập bát giới, ta đều không thấy có một yếu tố nào để kết luận một ngã thể nới ấy. Do thế nên cơn giận không có một chỗ nào để mà đặt chân lên được.
Nhưng nếu hành giả không thể phân tích được bằng cách ấy, thì nên tìm cách tặng cho người đó một món quà. Khi làm như vậy, sự hiềm hận sẽ nhiều thuận duyên để lắng dịu.
Qua các phương thức đã trình bày, thế nào hành giả cũng tìm được một giải pháp thích hợp với hoàn cảnh và trình độ của mình để mà tu tập, như Kinh mô tả: “ Vị Tỳ kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư, trên dưới, bốn bên, cùng khắp thế giới bình đẳng; vị ấy an trú biến mãn với tâm cầu hữu với từ, chan chứa, cao cả, vô biên, không hận, không não”.(D.I,250)
Biến mãn nghĩa là cùng khắp tất cả. Ở đây chỉ cho khắp chủng loại và khắp mười phương. Chủng loại gồm có bảy, đó là: Nữ nhân, nam nhân. Các bậc thánh, người phàm tục, chư thiên, nhân loại, và tất cả những chúng sinh ở các đọa xứ. Mười phương là Đông Tây, Nam, Bắc, bốn góc và trên dưới. Hành giả phải cầu mong cho bảy chủng loại ở khắp mười phương thoát khỏi hận thù, ưu não, và sống hạnh phúc.
Từ chúng sinh hay hữu tình được dịch từ chũ Satta, có nghĩa là bị giữ lại, hay dục vọng tóm lấy, và tham
luyến đối với năm uẩn. Lại còn có mấy từ tương đương khác, như vật có hơi thở (pàna), vì sự hiện hữu của chúng tùy thuộc vào hơi thở vô, hơi thở ra; hữu thể ( bhùta), vì có sự hiện hữu, được dịch âm là bổ-đặc-già-la, nó được cấu trúc từ chũ pum: tên gọi địa ngục, và chữ galanti: rơi vào. Ngoài ra, còn có từ ngữ ngã (attabhàva), chỉ có cái thân vật lý, hay cả ngũ uẩn. Tóm lại, từ chúng sinh gồm có các nghĩa: hữu tình, hữu thể, vật có hơi thở, người và tự ngã (Satta, pàna, bhùta, puggala và attabhàva).
Bản luận này kể về trường hợp trưởng lão Visàkha tu tập từ tâm an trú bốn tháng tại tu viện Cittapabbata, được loài phi nhân cảm mến, đến lúc ngài ra đi, phi nhân ấy khóc lóc, Ngai hỏi vì sao, thì nó nói: “Bạch đại đức, trong lúc Ngài trú tại đây, thì các phi nhân đối xử với nhau ôn hòa và tử tế. Bây giờ Ngài đi, thì chúng sẽ khởi sự gây lộn và nói tục”.
2. BI (KARUNÀ)
Mọi người muốn tu tập tâm bi cần phải khởi đầu quán sát sự nguy hiểm do thiếu tâm bi, và lợi ích của tâm bi. Hành giả cũng cần phải tránh quán sát đến năm hạng người: người thân, kẻ thù, người dưng, người chết và người khác phái, như trường hợp tu tập tân từ đã nói ở trên.
Trước hết, hành giả nên khởi tâm bi đối với một người bất hạnh, thiếu may mắn, nghĩ rằng: “Khổ thay vị chúng sinh nầy, mong sao vị ấy thoát khỏi đau khổ”. Nếu không gặp trường hợp như thế, thì hành giả có thể
khởi tâm bi đối với một người làm ác, dù hiện tại nó đang sống hạnh phúc, nghĩ rằng: “Mặc dù kẻ khốn nạn nầy hiện giờ đang sống hạnh phúc, vui vẻ hưởng thụ những tài sản mà y có được, nhưng vì y không làm được một việc thiện nào về thân, ngữ, ý trọng hiện tại, chắc chắn y sẽ chuốc lấy cái khổ không thể nói được ở trong đọa xứ”. Người ấy cũng giống như một kẻ trộm cướp đang bị bắt quả tang với những vật dụng mà nó lấy trộm, rồi nhà vua ra lệnh cho quân lính trói chặt nó, và dẫn nó đến pháp trường.
Sauk hi đã khởi tâm bị đối với một người như thế, kế đó, hành giả nên khởi tâm bi đối với một người thân, người dưng và đối với kẻ thù. Về diễn tiếp tu tập tâm bi nầy cũng tương tự như phương pháp tu tập tâm từ đã được đề cập rộng rãi ở trên.
3.HỶ (MUDIRÀ)
Một người mới khởi sự tu tập tâm hỷ, trước hết nên bắt đầu từ vị giáo thọ sư rồi đên người thân, người dưng và kẻ thù, như trường hợp quán niệm về hai tâm từ và bi ở trước. Sau đó mở rộng đến các đối tượng khác và trải tâm hỷ đến khắp mười phương, chung cuộc sẽ đạt được những lợi ích như đã nói ở phần tu tập tâm từ.
Tu tập tâm hỷ khi đạt được kết quả sẽ hiện rõ nhất ở thiền thứ ba, còn hai tâm từ và bi thì ở giai đoạn thiền thứ nhất và thứ hai trong hệ thống tứ thiền.
4.XẢ (UPEKKHÀ)
Muốn một người tu tập tâm xả cần phải đắc tam thiền trong hệ thống bốn thiền và tứ thiền trọng hệ
thống năm thiền về quán niệm tâm từ, bi, hỷ. Hành giả trước hết nên hướng tâm xả đến một người không thân không sơ, theo cách đã nói ở trên, rồi đến các đôi tượng người thân, kẻ thù và chính bản thân mình. Khi tu tập tâm nầy đến độ sung mãn, tứ thiền sẽ khởi lên nơi hành giả theo cách đã nói trong phần biến xứ đất. Còn các phương diện khác cũng tương tự như tu tập tâm từ, bi, hỷ ở trước.
TỔNG QUÁT
a. Ý nghĩa
Trước hết nên nói về ý nghĩa của từ, bi, hỷ và xả:
Từ có nghĩa là hòa tan, là hóa giải hết những uất kêt;
Bi là tiêu hủy hết những nổi khổ của người khác;
Hỷ là tươi mát, vui vẻ;
Xả là trạng thái thản nhiên, không bận tâm.
Nói chung, Từ cho vui đối với tất cả chúng sinh, Bi là cứu khổ tất cả chúng sinh*.
b. Đặc tính
Về phương diện đặc tính:
Từ đem lại sự an lạc, làm cho ác tâm lắng dịu.
Bi có đặc tính làm giảm bớt đau khổ, và triệt tiêu sự tàn bạo.
Hỷ là vui mừng trước sự thành công của người khác, nó làm cho sự chán ghét tiêu tan.
______________________
* Từ năng dữ nhất thiết chúng sinh chi lạc, Bi năng bạt nhất thiết chúng sinh chi khổ.
Xả có đặc tính là phát triển tính thản nhiên đối với hữu tình, nó dẫn đến trạng thái không còn ưa và ghét.
c. Mục đích
Mục đích tổng quát của bốn phạm trú nầy là sự an lạc của tuệ giác, và đưa đến một hình thức tái sinh tốt đẹp trong tương lai:
Từ có mục đích là diệt tâm sân;
Bi có mục đích là ngăn tâm ác;
Hỷ có mục đích là trừ tâm chán ghét;
Xả có mục đích là đoạn tâm hận và tham.
d. Những chướng ngại gần và xa
Mỗi đức tính trên đây có hai chướng ngại, một gần và một xa:
Phạm trú Từ có tham là chướng ngại (kẻ thù) gần, sân là chướng ngại xa.
Phạm trú Bi có nỗi buồn liên hệ với gia đình là chướng ngại gần, sự tàn bạo chướng ngại xa của nó.
Phạm trú Hỷ có niềm vui liên hệ với gia là chướng ngại gần, và sự thù ghét là chướng ngại xa của nó.
Phạm trú Xả có xả do vô tri liên hệ đến đời sống tại gia là kẻ thù gần, và long tham cũng chán ghét là kẻ thù xa của nó.
đ. Các giai đoạn
- Lòng hăng hái muốn tu tập các đức tính kể trên là giai đoạn đầu.
- Trừ khử các triền cái là giai đoạn giữa,
- Và đạt được an chỉ là giai đoạn cuối.
e. Bốn yếu tố cần được giải thích
Tại sao từ, bi, hỷ, xr, được gọi là bốn phạm truf? Tạo sao chỉ có bốn? Thứ tự của chúng thế nào? Tại sao chúng được gọi là vô lượng?
Từ phạm trù ở đây cần được hiểu là tốt nhất, là vô cấu. Cũng như vị trời Phạm thiên an trú với tâm cao thượng, vô nhiễm, thiền giả thành tựu những đức tính nầy cũng an trú ngang hàng vói phạm thiên. Do đó, chúng được gọi là phạm trú theo nghĩa tốt nhất và vô nhiễm.
Vì mục đích cứu độ chúng sinh cũng chỉ cần đến bốn phương diện và theo thứ tự hợp lý như sau: đem lại an lạc (từ), tẩy trừ đau khổ( bi), vui trước sự thành công của chúng sinh (hỷ), và không bận tâm vào bất cứ điều gì ( xả ); do đó, chỉ cần đến bốn pháp mà thôi. Vì xả là kết hợp của ba phạm trú trên, do đó, phải theo thứ tự từ, bi, hỷ và xả.
Phạm vi của chúng ta là bao la không thể lường được, nên chúng được gọi là Vô lượng.
g. Lĩnh vực hoạt hiện của chúng.
Mặc dù phạm vi của chúng được nói là vô lượng, nhưng ba phạm trú đầu phát huy tác dụng mạnh mẽ ở ba bậc thiền đầu trong bốn thiền, hay bốn bậc thiền đầu trong hệ thống năm thiền.
Xả thuộc bậc thiền cuối cùng trong hai hệ thống thiền Sắc giới.
h. Giới hạn cao nhất của chúng
Đành rằng bốn phạm trú nầy phát huy tác dụng rõ ràng nhất ở cõi thiền Sắc giới, nhưng đồng thời chúng cũng làm nên nền tảng sự tu tập của cõi Vô sắc:
Từ là cơ sở cho giải thoát nhờ tịnh tướng ( M. II,12).
Bi là điểm tựa căn bản của Không vô biên xứ.
Hỷ là điểm tựa căn bản cho Thức vô biên xứ.
Xả là điểm căn bản cho Vô sở hữu xứ.
Tóm lại, chủ yếu của chương VII nầy là đề cập đến phương pháp tu tập lấy đến bốn phạm trú Tù, Bi, Hỷ, Xả làm cơ sở.
***