Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.
Khi đó Thiên Ðế Thích Ðề Hoàn Nhơn thưa: Ý kiến bạn đọc
BÁT –NHÃ BA-LA-MẬT
THỨ SÁU MƯƠI SÁU
Bạch đức Thế Tôn! Tôi nói như vậy, đáp như vậy, có phải là thuận theo pháp mà chẳng là chánh đáp chăng?”.
Đức Phật phán dạy:
Nầy Kiều Thi Ca! Lời đáp của ngươi thật đều thuận theo pháp cả”.
- Bạch đức Thế Tôn! Thật là hi hữu! Chỗ nói
- Nầy Kiều Thi Ca! Tỳ Kheo Tu Bồ Ðề lúc hành không, Ðàn ba la mật còn là bất khả đắc huống là người hành Ðàn ba la mật. Nhẫn đến Bát nhã ba la mật còn bất khả đắc, huống là người hành Bát nhã ba la mật. Tứ niệm xứ còn bất khả đắc, huống là người tu tứ niệm xứ. Nhẫn đến bát Thánh đạo còn bất khả đắc, huống là người hành bát Thánh đạo. Thiền, giải thoát, tam muội định còn bất khả đắc, huống là người tu thiền, giải thoát, tam muội định còn bất khả đắc, huống là người tu thiền, giải thoát, tam muội định. Mười trí lực còn bất khả đắc, huống là người tu mười trí lực. Tứ vô úy còn bất khả đắc, huống là người hành đại từ đại bi. Mười tám pháp bất cộng còn bất khả đắc, huống là người hay sanh mười tám pháp bất cộng. Vô thượng Bồ đề còn khả đắc, huống là người được Vô thượng Bồ đề. Nhứt thiết trí còn bất khả đắc, huống là người được Nhứt thiết trí. Như Lai còn bất khả đắc, huống là người sẽ làm Như Lai. Pháp vô sanh còn bất khả đắc, huống là người chứng được pháp vô sanh. Ba mươi hai tướng còn bất khả đắc, huống là người được ba mươi hai tướng.
Nầy Kiều Thi Ca! Ðem chỗ sở hành của Tỳ Kheo Tu Bồ Ðề đây muốn so sánh với hạnh Bát nhã ba la mật của đại Bồ tát thì không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, không bằng một phần ngàn muôn ức, nhẫn đến toán số thí dụ cũng không bằng được. Tại sao vậy? Vì trừ công hạnh của Phật, đối với công hạnh của Thanh văn và Bích chi Phật, thì công hạnh Bát nhã ba la mật của đại Bồ tát là tối tôn, tối thượng, tối diệu. Thế nên đại Bồ tát muốn được tối thượng ở trong tất cả chúng sanh thì phải hành Bát nhã ba la mật. Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát vượt trên bực Thanh văn và Bích chi Phật mà vào bực Bồ tát, hay đầy đủ Phật pháp, được Nhứt thiết chủng trí, dứt tất cả tập khý phiền não mà làm Phật”.
Bấy giờ trong đại hội, chư Thiên Ðao Lợi đem hoa Mạn đà la cõi trời rải trên Đức Phật và chư Tăng. Khi đó, tám trăm vị Tỳ Kheo đứng dậy rải hoa cúng Phật, trịch y quỳ gối chắp tay bạch rằng:
Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi sẽ thực hành
Ðức Phật biết tâm niệm của các vị Tỳ Kheo nên mỉm cười. Như pháp của Chư Phật, những ánh sáng nhiều màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía từ miệng Đức Phật phóng ra chiếu khắp cõi Đại Thiên, nhiễu quanh Đức Phật ba vòng rồi rót vào đảnh Đức Phật. Ngài A Nan liền đứng dậy trịch y quỳ gối chắp tay bạch rằng:
Bạch đức Thế Tôn! Duyên cớ gì mà Đức Phật mỉm cười? Chư Phật không bao giờ không nhơn duyên mà cười”.
Đức Phật phán dạy:
Nầy A Nan! Tám trăm vị Tỳ Kheo đây, trong kiếp Tinh Tú sẽ thành Phật đồng hiệu là Tán Hoa, đại chúng, quốc độ và thọ mạng cũng đều đồng. Mỗi vị đều qua tám muôn tuổi đi xuất gia làm Phật. Thời kỳ đó, các quốc độ của chư Phật ấy thường mưa hoa trời năm màu. Thế nên, nầy A Nan! Ðại Bồ tát muốn thực hành công hạnh tối thượng thì phải hành Bát nhã ba la mật.
Nầy A Nan! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào có thể thực hành Bát nhã ba la mật sâu xa nầy thì phải biết đó là Bồ tát bỏ thân trong loài người mà sanh đến trong đây, hoặc từ trên cung trời Ðâu
Nầy A Nan! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe Bát nhã ba la mật sâu xa nầy rồi thọ trì, đọc tụng, thân cận, chánh ức niệm, lại đem dạy cho người hành đạo Bồ tát, phải biết thiện nam, thiện nữ đó hiện diện từ chư Phật, nghe Bát nhã ba la mật sâu xa rồi thọ trì, đọc tụng, thân cận, cũng đã trồng căn lành từ chỗ chư Phật. Thiện nam, thiện nữ đó nên nghĩ rằng: Tôi trồng căn lành chẳng phải từ chỗ Thanh văn, cũng chẳng phải từ chỗ Thanh văn nghe Bát nhã ba la mật sâu xa.
Nầy A Nan! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào thọ trì, đọc tụng, thân cận, tùy nghĩa, tùy pháp thực hành Bát nhã ba la mật sâu xa nầy, phải biết đó là người hiện diện thấy Phật.
Nầy A Nan! Nếu có thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật sâu xa nầy mà lòng tin thanh tịnh không bị ngăn phá, phải biết đó là người đã từng cúng dường Phật trồng căn lành, cùng thiện tri thức tương đắc.
Nầy A Nan! Người ở chỗ phước điền chư Phật trồng căn lành dầu rằng chẳng dối hư nhưng cần
Nầy A Nan! Thế nên ta đem Bát nhã ba la mật chúc lụy cho ngươi. Nầy A Nan! Nếu người thọ trì tất cả pháp, trừ Bát nhã ba la mật, nếu quên mất thì lỗi còn ít chẳng thành đại tội. Người thọ trì Bát nhã ba la mật sâu xa nếu quên mất thì tội rất nhiều. Thế nên ta đem Bát nhã ba la mật sâu xa nầy chúc lụy cho ngươi. Ngươi phải khéo thọ trì, đọc tụng thông thuộc.
Nầy A Nan! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào thọ trì Bát nhã ba la mật, đó là thọ trì Vô thượng Bồ đề của tam thế chư Phật: quá khứ, vị lai và hiện tại. Nầy A Nan! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào hiện tại cúng dường ta với những hoa hương, chuỗi ngọc, y phục, phan lọng và cung kính, tôn trọng, ca ngợi, thì phải thọ trì Bát nhã ba la mật và đọc tụng, giảng thuyết, thân cận, cung kính, tôn trọng, ca ngợi, cúng dường hoa hương, chuỗi ngọc, phan lọng. Nầy A Nan! Cúng dường Bát nhã ba la mật là cúng dường ta, cũng là đã cúng dường tam thế chư Phật rồi. Nếu thiện nam, thiện nữ nào nghe nói Bát nhã ba la mật mà lòng tin
Nầy A Nan! Ta nói nhơn duyên chúc lụy rất nhiều, nay ta chỉ nói tóm lược: Như Ta là Thế Tôn thì Bát nhã ba la mật cũng là Thế Tôn. Thế nên vì nhiều nhơn duyên, ta đem Bát nhã ba la mật chúc lụy cho ngươi.
Nầy A Nan! Nay ta ở giữa tất cả thế gian, Trời, Người, A tu la chúc lụy ngươi: những ai muốn bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, chẳng bỏ Vô thượng Bồ đề của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại thì cẩn thận chớ bỏ Bát nhã ba la mật. Nầy A Nan! Ðây chánh là pháp mà ta dạy bảo hàng đệ tử.
Nầy A Nan! Nếu có thiện nam, thiện nữ thọ trì Bát nhã ba la mật sâu xa, đọc tụng, giảng thuyết, chánh ức niệm, rồi lại vì người khác nói rộng những ý nghĩa của Bát nhã ba la mật đó, chỉ dạy tuyên nói rành rẽ làm cho dễ hiểu. Người nầy mau được Vô thượng Bồ đề, mau gần Nhứt thiết chủng trí. Vì trong Bát nhã ba la mật hay sanh Vô thượng Bồ đề của chư Phật.
Nầy A Nan! Sáu Bát nhã ba la mật đây là tạng pháp vô tận của chư Phật: Chư Phật hiện tại thuyết pháp ở mười phương đều ra từ trong tạng pháp sáu ba la mật. Chư Phật quá khứ cũng từ trong sáu ba la mật mà học được Vô thượng Bồ đề. Chư Phật vị lai sẽ từ trong sáu ba la mật mà học được Vô thượng Bồ đề. Hàng đệ tử của tam thế chư Phật đều từ trong sáu ba la mật mà học được diệt độ: hoặc đã diệt độ, hoặc đang diệt độ, hoặc sẽ được diệt độ.
Nầy A Nan! Người và hàng Thanh văn mà thuyết pháp, làm cho chúng sanh trong cõi Đại Thiên đều chứng được quả A la hán, vẫn chưa phải là sự việc của đệ tử Phật. Nếu người đem một câu đúng với Bát nhã ba la mật dạy cho đại Bồ tát mới phải là sự việc của đệ tử Phật. Ta cũng rất
Lại nầy A Nan! Chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đây, không trước không sau, đồng thời đều chứng được quả A la hán. Chư A la hán nầy thực hành công đức bố thí, trì giới, thiền định. Công đức đó có nhiều chăng?”.
- Bạch đức Thế Tôn! Công đức đó rất nhiều.
- Vẫn chẳng bằng đệ tử của ta đem pháp đúng với Bát nhã ba la mật nói cho đại Bồ tát nhẫn đến chừng một ngày. Phước đức người Nầy rất nhiều. Chẳng những một ngày, chỉ chừng nửa ngày, chỉ chừng khoảng bữa ăn, hoặc chỉ nói pháp đó trong giây phút, phước đức cũng rất nhiều. Vì căn lành của đại Bồ tát hơn tất cả Thanh văn và Bích chi Phật.
Ðại Bồ tát tự mình muốn được Vô thượng Bồ đề cũng dạy bảo người khác cho học được Vô thượng Bồ đề. Nầy A Nan! Bồ tát như vậy hành sáu ba la mật, hành tứ niệm xứ nhẫn đến hành Nhứt thiết chủng trí, thêm lớn căn lành mà chẳng được Vô thượng Bồ đề thì không bao giờ có”.
Lúc nói Bát nhã ba la mật như vậy, Đức Phật ở giữa tứ chúng trời, người, quỷ thần, bát bộ mà hiện thần thông biến hóa. Tất cả đại chúng đều thấy Đức Phật A Súc đương thuyết pháp cho chư
Bấy giờ Đức Phật nhiếp thần túc, đại chúng không còn thấy Đức Phật A Súc và đại hội Thanh văn Bồ tát cùng nước Diệu Hỷ đối trước mắt nữa.
Ðức Phật bảo Ngài A Nan:
“Nầy A Nan! Tất cả pháp chẳng đối lập với mắt: các pháp chẳng thấy nhau, các pháp chẳng biết nhau. Như cõi nước Phật A Súc và Thanh văn Bồ tát chẳng đối lập trước mắt, các pháp cũng chẳng đối lập trước mắt: các pháp chẳng thấy nhau, các pháp chẳng biết nhau. Vì các pháp không thấy, không biết, không tác, không động, chẳng nắm lấy được, chẳng nghĩ bàn được. Như huyễn nhơn không lãnh thọ, không cảm giác, không chơn thật. Ðại Bồ tát hành như vậy là hành Bát nhã ba la mật, chẳng nắm lấy các pháp.
Nầy A Nan! Ðại Bồ tát học như vậy gọi là học Bát nhã ba la mật. Người muốn được các ba la
Nầy A Nan! Có người nào muốn được ngằn mé của Bát nhã ba la mật, đó là muốn được bờ mé của hư không. Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật là vô lượng. Ta chẳng bao giờ nói lượng của Bát nhã ba la mật. Những danh từ, những câu, những chữ là hữu lượng. Bát nhã ba la mật là vô lượng”.
- Bạch đức Thế Tôn! Tại sao Bát nhã ba la mật là vô lượng?
- Nầy A Nan! Vì Bát nhã ba la mật vô tận nên vô lượng. Vì Bát nhã ba la mật Ly nên vô lượng. Nầy A Nan! Chư Phật quá khứ học Bát nhã ba la mật nầy mà đắc độ nên là vô tận. Chư Phật vị lai học Bát nhã ba la mật nầy mà đắc độ nên là vô
Người nào muốn cùng tận Bát nhã ba la mật nầy, đó là kẻ muốn cùng tận hư không. Bát nhã ba la mật chẳng cùng tận: đã, sẽ và đương chẳng cùng tận. Năm ba la mật: Thiền đến Thí ba la mật cũng chẳng cùng tận: đã, sẽ và đương chẳng cùng tận. Nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí cũng như vậy. Tại sao vậy? Vì tất cả pháp đó đều vô sanh. Nếu các pháp đó đã vô sanh thì làm sao có tận”.
Khi đó đức Phật hiện tướng lưỡi che trùm cả mặt mà bảo Ngài A Nan rằng:
Từ ngày nay ở giữa bốn bộ chúng giảng dạy rộng rãi rành rẽ Bát nhã ba la mật, phải cho rõ ràng dễ hiểu. Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật sâu xa Nầy nói rộng các pháp tướng. Trong đại chúng đây, người cầu Thanh văn cầu Bích chi Phật, cầu Phật đạo đều phải học trong nầy. Học xong thì đều được thành tựu cả.
Nầy A Nan! Bát nhã ba la mật nầy là tất cả tự môn. Hành nơi đây có thể vào môn đà la ni. Bồ tát học môn đà la ni nầy thì được tất cả biện tài vô ngại.
Nầy A Nan! Bát nhã ba la mật là diệu pháp của tất cả tam thế chư Phật. Vì thế nên Ta vì ông
Nầy A Nan! Ta nói Bát nhã ba la mật là đôn chân của hành giả. Ông thọ trì Bát nhã ba la mật nầy thì có thể thọ trì tất cả pháp, vì ngươi được đà la ni vậy.