Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.
Ngài Tu Bồ Ðề thưa: Ý kiến bạn đọc
BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT
THỨ BẢY MƯƠI BỐN
Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát đó thành tựu đại trí huệ hành pháp rất sâu đó mà cũng chẳng hưởng thọ quả báo.
Ðức Phật phán dạy:
Ðúng như vậy. Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát thành tựu đại trí huệ hành Bát nhã ba la mật sâu xa đó cũng chẳng thọ lấy quả báo. Tại sao vậy? Vì đại Bồ tát đó ở trong các pháp tánh bất động.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Trong tánh vô sỡ hữu bất động. Trong tánh sắc bất động. Trong tánh thọ tưởng hành thức bất động. Trong tánh Ðàn na ba la mật bất động. Trong tánh Thi la ba la mật đến tánh Bát nhã ba la mật bất động. Trong tánh tứ thiền, tánh tứ vô lượng tâm, tánh vô sắc định bất động. Trong tánh tứ niệm xứ đến tánh bát Thánh đạo phần bất động. Trong tánh tam tam muội, tánh đại từ đại bi bất động. Tại sao vậy? Vì các pháp tánh đó chính là vô sở hữu. Vì pháp vô sở hữu chẳng có thể được pháp sở hữu.
- Bạch đức Thế Tôn! Pháp sở hữu có thể được pháp sở hữu chăng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Pháp sở hữu có thể được pháp vô sở hữu chăng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Pháp vô sở hữu có được pháp vô sở hữu chăng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu pháp vô sở hữu chẳng có thể được pháp sở hữu, pháp sở hữu
- Nầy Tu Bồ Ðề! Có được, chẳng do bốn câu đó.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là có được?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Chẳng phải sở hữu, chẳng phải không sở hữu, không các hý luận, đó gọi là được đạo.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là Ðại Bồ tát hý luận?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát quan niệm sắc hoặc là thường, hoặc là vô thường, đó là hý luận. Quan niệm thọ tưởng hành thức là thường, hoặc vô thường, đó là hý luận. Quan niệm sắc là khổ hoặc lạc, đó là hý luận. Quan niệm thọ tưởng hành thức là khổ hoặc lạc, đó là hý luận. Quan niệm sắc là ngã, là vô ngã, đó là hý luận. Quan niệm thọ tưởng hành thức là ngã, là vô ngã, đó là hý luận. Quan niệm sắc là tịch diệt, hoặc chẳng tịch diệt, đó là hý luận. Quan niệm thọ tưởng hành thức tịch diệt, hoặc chẳng tịch diệt, đó là hý luận. Quan niệm Khổ Thánh đế phải thấy, Tập Thánh đế phải dứt, Diệt Thánh đế phải chứng, Đạo Thánh đế phải tu, đó là hý luận. Quan niệm
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát đó lúc hành Bát nhã ba la mật, vì sắc thọ tưởng hành thức nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí chẳng hý luận được nên chẳng hý luận. Tại sao vậy? Tánh chẳng hý luận tánh, vô tánh chẳng hý luận vô tánh. Rời ngoài tánh và vô tánh Không còn pháp gì có thể được để gọi là kẻ hý luận, là pháp hý luận và chỗ hý luận. Thế nên, Nầy Tu Bồ Ðề! Sắc nhẫn đến Nhứt
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là sắc chẳng hý luận được, nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí chẳng hý luận được?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Sắc tánh Không, nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí tánh Không. Nếu pháp tánh Không tức là không hý luận. Vì thế nên sắc nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí chẳng hý luận được. Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu Ðại Bồ tát hay hành vô hý luận Bát nhã ba la mật như vậy thì liền được nhập Bồ tát vị.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu pháp không có tánh, Bồ tát hành đạo gì mà nhập Bồ tát vị? Dùng Thanh văn đạo, dùng Bích chi Phật đạo hay dùng Phật đạo?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Chẳng dùng Thanh văn đạo, chẳng dùng Bích chi Phật đạo, chẳng dùng Phật đạo mà được vào Bồ tát vị. Ðại Bồ tát học khắp các đạo mà được vào Bồ tát vị.
Nầy Tu Bồ Ðề! Như bực Bát Nhơn địa trước học các đạo rồi sau mới vào chánh vị, chưa được quả mà trước sanh đạo của quả.
Cũng vậy, Bồ tát trước học khắp các đạo rồi sau mới nhập Bồ tát
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ tát học khắp các đạo nhập Bồ tát vị, vậy thì Bát Nhơn hướng Tu đà hoàn được Tu đà hoàn, hướng Tư đà hàm được Tư đà hàm, hướng Ðại Bồ tát Na Hàm được A na hàm, hướng A la hán được A la hán, Bích chi Phật đạo, Phật đạo. Các đạo như vậy đều riêng khác.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ tát học khắp các đạo rồi sau nhập Bồ tát vị, Bồ tát nầy nếu sanh bát đạo lẽ ra phải làm Bát Nhơn, nếu sanh kiến đạo lẽ ra phải làm Tu đà hoàn, nếu sanh tư duy đạo lẽ ra phải làm Tư đà hàm, A na hàm, là A la hán, nếu sanh Bích chi Phật đạo lẽ ra phải làm Bích chi Phật.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ tát mà làm Bát Nhơn rồi sau nhập Bồ tát vị thì không bao giờ có. Chẳng nhập Bồ tát vị mà được Nhứt thiết chủng trí cũng không bao giờ có. Nếu đại Bồ tát mà làm Tu đà hoàn nhẫn đến làm Bích chi Phật rồi sau nhập Bồ tát vị cũng không bao giờ có. Chẳng nhập Bồ tát vị mà được Nhứt thiết chủng trí cũng không bao giờ có.
- Ðúng như vậy. Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát mà làm Bát Nhơn, được quả Tu đà hoàn nhẫn đến được quả A la hán, được quả Bích chi Phật đạo rồi sau nhập Bồ tát vị, không bao giờ có. Chẳng nhập Bồ tát vị mà được Nhứt thiết chủng trí cũng không bao giờ có.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát từ lúc mới phát tâm hành sáu ba la mật, dùng trí quán tám địa. Những gì là tám? Ðó là Càn Huệ địa, Tánh địa, Bát Nhơn địa, Kiến địa, Bạc địa, Ly Dục địa, Dĩ Biện địa và Bích chi Phật địa, dùng Đạo chủng trí nhập Bồ tát vị. Sau khi đã nhập Bồ tát vị, dùng Nhứt thiết chủng trí dứt tất cả tập khí phiền não.
Nầy Tu Bồ Ðề! Hoặc là trí, hoặc là đoạn của bực Bát nhơn, của bực Tu đà hoàn, nhẫn đến hoặc là trí hoặc là đoạn của A la hán, của Bích chi Phật đều là vô sanh pháp nhẫn của Bồ tát đó. Bồ tát đó học đạo Thanh văn, đạo Bích chi Phật như vậy, dùng đạo chủng trí nhập Bồ tát vị. Nhập Bồ tát vị rồi dùng Nhứt thiết chủng trí dứt tất cả tập khí phiền não được Phật đạo.
Như vậy, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát hoặc khắp các đạo đầy đủ thì được Vô thượng Bồ đề. Ðược Vô thượng Bồ đề rồi thì lợi ích tất cả chúng sanh.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát phải sanh khởi tất cả đạo chủng tịnh trí. Những gì đạo chủng tịnh trí?
Như tướng mạo các pháp, những pháp có thể hiển thị được, Bồ tát phải chánh tri. Ðã chánh tri rồi vì người khác mà diễn thuyết khai thị, làm cho chúng sanh được hiểu. Ðại Bồ tát nầy phải hiểu tất cả âm thanh, ngữ ngôn. Dùng âm thanh đó mà thuyết pháp khắp cùng Ðại thiên thế giới dường như tiếng vang.
Vì thế nên, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát trước phải học đầy đủ tất cả đạo. Ðạo trí đầy đủ rồi phân biệt biết thâm tâm của chúng sanh. Ðó là chúng sanh Địa ngục đạo, Súc sanh đạo, Ngạ quỷ đạo; Ðịa ngục, Súc sanh, Ngạ quỷ nhơn; Ðịa ngục, súc sanh, ngạ quỷ quả, Bồ tát phải biết, phải ngăn. Long thần, A tu la, Bát bộ đạo nhơn và quả, Bồ tát phải biết, phải ngăn. Nhơn Thiên đạo nhơn và quả, Bồ tát phải biết. Tứ niệm xứ đến bát Thánh đạo phần nhơn và quả, Bồ tát phải biết. Không, Vô tướng, Vô tác giải thoát môn, Phật thập lực, tứ vô sở úy, tứ vô ngại trí, mười tám
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðó gọi là Tịnh đạo chủng trí của đại Bồ tát. Bồ tát học Đạo chủng trí nầy rồi vào tướng thâm tâm của chúng sanh. Vào xong, tùy theo tâm của chúng sanh mà thuyết pháp đúng chỗ, lời nói chẳng luống. Tại sao vậy? Vì đại Bồ tát đó khéo biết căn tướng của chúng sanh, khéo biết tâm và tâm sở của tất cả chúng sanh, sống chết đi về đâu.
Nầy Tu Bồ Ðề! Phải hành Bát nhã ba la mật như vậy. Tại sao? Vì tất cả pháp hành, tất cả pháp trợ đạo đều vào trong Bát nhã ba la mật mà chư đại Bồ tát, chư Thanh văn, chư Bích chi Phật phải hành.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tứ niệm xứ đến Vô thượng Bồ đề, tất cả pháp đó đều chẳng hiệp, chẳng tan, không sắc, không hình, không đối, là nhứt tướng, đó là vô tướng, thì những pháp trợ đạo đó thế nào lại có thể lấy được Vô thượng Bồ đề? Bạch đức Thế Tôn! Pháp Nhứt tướng chẳng hiệp, chẳng tan, không sắc, không hình, không đối, đó là pháp vô tướng, không chỗ lấy, không
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðúng như vậy. Các pháp tự tướng Không, không chỗ lấy, không chỗ bỏ. Nầy Tu Bồ Ðề! Có những chúng sanh chẳng biết các pháp tự tướng không. Vì những chúng sanh đó mà hiển thị pháp trợ đạo làm cho họ đến Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! Bao nhiêu những pháp: sắc thọ tưởng hành thức, lục độ, mười tám Không, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định Vô sắc, bốn niệm xứ đến tám Thánh đạo phần, ba môn giải thoát, tám bội xả, chính định thứ đệ, Phật thập lực, bốn vô úy, bốn trí vô ngại, mười tám pháp bất cộng, đại từ đại bi, Nhứt thiết chủng trí, trong những Thánh pháp nầy đều không hiệp, không hình, không sắc, không đối, là nhứt tướng, đó là vô tướng. Vì dùng pháp thế tục tuyên nói cho chúng sanh được hiểu, chớ chẳng phải dùng đệ Nhứt nghĩa.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ở trong tất cả pháp nầy, đại Bồ tát phải dùng trí thấy biết mà học. Học xong, phân biệt các pháp nên dùng hay chẳng nên dùng.
- Bạch đức Thế Tôn! Những pháp gì Bồ tát phân biệt rồi nên dùng hay chẳng nên dùng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Pháp Thanh văn, pháp Bích chi Phật, Bồ tát phân biệt biết nhưng chẳng nên