Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 7 - Kinh Bát Nhã Ba La Mật

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.

 

Chương 28: KINH MA-HA - Phần 1 (trang 231-240)

KINH MA-HA
BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT
 
PHẨM TỨ NHIẾP 
THỨ BẢY MƯƠI TÁM

Ngài Tu Bồ Ðề bạch đức Phật:
Bạch đức Thế Tôn! Nếu các pháp như như mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm, như huyễn, như hóa, không có thật sự, không có tánh, tự tướng rỗng không, thì làm thế nào phân biệt là pháp lành, pháp chẳng lành, là pháp thế gian, là pháp xuất thế gian; là pháp hữu lậu, là pháp vô lậu, là pháp vô lậu; là pháp hữu vi, là pháp vô vi; là pháp hay được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán; là pháp hay được đạo Bích chi Phật, là pháp hay được Vô thượng Bồ đề?

Ðức Phật bảo ngài Tu Bồ Ðề:
Kẻ phàm, người ngu có mộng, có người thấy mộng… nhẫn đến có hóa, có người thấy hóa. Họ phát khởi thân, khẩu, ý gây nghiệp thiện, nghiệp bất thiện, nghiệp vô ký, nghiệp phước, nghiệp tội, nghiệp bất động. Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật an trụ trong hai thứ Không: tất cánh Không và vô thỷ không, vì chúng sanh mà thuyết pháp rằng: “Các chúng sanh nầy! Sắc thọ tưởng hành thức rỗng không, không có sở hữu; thập nhị thập, thập bát giới rỗng không, không có sở hữu. Sắc thọ tưởng hành thức, thập nhị thập, thập bát giới là mộng, là hưởng, là ảnh, là diệm, là huyễn, là hóa. Trong đó không có năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới; không có mộng cũng không có người thấy mộng; không có hưởng cũng không có người nghe hưởng; không có ảnh cũng không có người thấy ảnh; không có diệm cũng không có người thấy diệm; không có huyễn cũng không có người thấy huyễn; không có hoá cũng không có người thấy hóa. Tất cả pháp không có căn bổn, thật tánh vô sở hữu. Các người ở trong không có ấm lại thấy có ấm, không có nhập lại thấy có nhập, không có giới lại thấy có giới. Tất cả pháp ấy đều từ nhơn duyên hòa hợp mà sanh. Do tâm điên đảo mà khởi, thuộc nghiệp quả báo. Tại sao 
các người ở trong những pháp rỗng không, không có căn bổn mà lại nắm lấy tướng căn bổn?”.
Lúc bấy giờ đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật dùng sức phương tiện ở trong pháp xan tham mà cứu thoát chúng sanh ra, dạy họ thực hành Ðàn na ba la mật, giữ công đức bố thí nầy được phước báo lớn. Từ nơi phước báo lớn cứu thoát ra, dạy họ trì giới, nương công đức trì giới, được sanh chỗ tôn quý trên trời. Rồi lại cứu thoát ra, dạy họ an trụ Sơ thiền. Do công đức Sơ thiền, sanh trời Phạm Thiên… nhẫn đến dạy họ an trụ Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ cũng như vậy.
Chúng sanh thực hành bố thí ấy và quả báo bố thí, trì giới và quả báo trì giới, thiền định và quả báo thiền định, từ nơi đó mà cứu thoát họ, đặt họ nơi vô dư Niết bàn và trong đạo Niết bàn, đó là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát Thánh đạo phần; Không, Vô tướng, Vô tác giải thóat môn; bát bội xả, cửu thứ đệ định, thập lực, tứ vô úy, tứ vô ngại trí, thập bát bất cộng pháp. Bồ tát làm an ổn chúng sanh, cho họ an trụ trong pháp vô lậu của bực Thánh, không sắc, không hình, không đối. Có ai có thể được quả Tu đà hoàn, thì Bồ tát an ổn giáo hóa, làm cho họ an trụ quả Tu đà hoàn. Có ai có thể
được Tư Đà Hàm, quả A na hàm, quả A la hán, đạo Bích chi Phật thì Bồ tát an ổn giáo hóa, làm cho họ an trụ quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, đạo Bích chi Phật. Có ai có thể được Vô thượng Bồ đề thì Bồ tát an ổn giáo hóa làm cho họ an trụ Vô thượng Bồ đề.
- Bạch đức Thế Tôn! Chư Ðại Bồ tát là hy hữu khó theo kịp. Các Ngài hay thực hành Bát nhã ba la mật sâu xa nầy. Các pháp không có tánh là rốt ráo Không, vô thỷ Không, mà các Ngài phân biệt các pháp là thiện, là bất thiện, là hữu lậu là vô lậu, nhẫn đến là hữu vi là vô vi.
- Ðúng như vậy. Nầy Tu Bồ Ðề! Chư Ðại Bồ tát rất là hy hữu khó theo kịp, hay thực hành Bát nhã ba la mật sâu xa nầy. Các pháp không có tánh, rốt ráo Không, vô thỷ Không, mà các Ngài phân biệt các pháp. Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu các ông biết pháp của Ðại Bồ tát nầy là rất hy hữu khó theo kịp, thì biết rằng tất cả hàng Thanh văn, Bích chi Phật chẳng có thể được, huống là người khác.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là pháp hy hữu khó theo kịp của đại Bồ tát mà tất cả hàng Thanh văn, Bích chi Phật không thể có được?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Nên Nhứt tâm lắng nghe. Có đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật an trụ trong báo
đắc sáu ba la mật và an trụ rong báo đắc ngũ thần thông, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, các Đà la ni, các trí vô ngại, đi qua đến cõi nước mười phương. Có ai đáng dùng bố thí được độ thì dùng bố thí nhiếp họ; có ai dùng trì giới được độ thì dùng trì giới nhiếp họ; có ai đáng dùng nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ để nhiếp họ. Có ai đáng dùng Sơ thiền được độ thì dùng Sơ thiền để nhiếp họ. Có ai đáng dùng Nhị thiền, Tam thiền nhẫn đến Phi phi tưởng xứ được độ thì theo chỗ thích ứng mà nhiếp lấy họ. Có ai nên dùng từ bi hỷ xả được độ thì dùng từ bi hỷ xả để nhiếp họ. Cá ai nên dùng tứ niệm xứ, tứ chánh cần, có ai nên dùng tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát Thánh đạo phần, Không tam muội, Vô tương tam muội, Vô tác tam muội được độ thì theo chỗ thích ứng để nhiếp lấy họ.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát dùng bố thí lợi ích chúng sanh thế nào?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Bồ tát bố thí tùy chỗ chúng sanh cần dùng mà cung cấp tất cả cho họ, như là:  thức ăn, món uống, Nhãn, nhĩ, tỉ, thật, thân, y phục, xe ngựa, hương hoa, anh lạc … đồng như cúng dường chư Phật hay Bích chi Phật, A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn
không khác. Hoặc bố thí cho bực đã nhập chánh đạo, người phàm, dưới đến chim thú đều không phân biệt sai khác, bố thí đồng đẳng. Tại sao? Vì tất cả pháp chẳng khác, chẳng phân biệt nên Bồ tát nầy không khác, không phân biệt. Bố thí như vậy rồi sẽ được báo pháp vô phân biệt, đó là Nhứt thiết chủng trí.
Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu Ðại Bồ tát thấy kẻ ăn xin mà quan niệm rằng: “Phật là phước điền, ta nên cúng dường; chim thú chẳng phải là phước điền, ta chẳng nên bố thí” thì chẳng phải là pháp Bồ tát. Tại sao? Ðại Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề chẳng nghĩ rằng: “Chúng sanh nầy nên bố thí lợi ích, chúng sanh nầy chẳng nên bố thí. Do vì bố thí chúng sanh nầy được sanh dòng lớn Sát lợi, Bà la môn, cư sĩ… nhẫn đến do vì bố thí nên dùng pháp Tam thừa độ họ vào vô dư Niết bàn”.
Nếu có chúng sanh đến xin, Bồ tát chẳng sanh lòng phân biệt sai khác: “Nên cho người nầy, không nên cho người nầy”. Tại sao? Vì Bồ tát vì những chúng sanh nầy mà phát tâm Vô thượng Bồ đề, nếu còn phân biệt chọn lựa thì sa vào chỗ quở trách của chư Phật, Bồ tát, Bích chi Phật, Thanh văn và tất cả trời, người, thế gian: “Ai thỷnh Ngài cứu tất cả chúng sanh! Ngài là nhà của tất cả chúng sanh, là chỗ hỗ trợ tất cả chúng sanh,
là chỗ nương tựa của tất cả chúng sanh mà lại phân biệt, lựa chọn nên cho, chẳng nên cho!”.
Lại nữa, lúc đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật, hoặc có người hay phi nhơn đến muốn cầu xin thân thể, tay chân của Bồ tát. Bấy giờ Bồ tát chẳng nên sanh hai lòng: “Nên cho hay chẳng nên cho”. Tại sao? Vì đại Bồ tát vì chúng sanh mà thọ thân, nay chúng sanh đến lấy đâu nên chẳng cho(?!). Bồ tát phải quan niệm rằng: “Tôi vì lợi ích chúng sanh mà thọ thân nầy, chúng sanh chẳng xin còn phải cho họ, huống là xin mà lại chẳng cho!”. Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật phải học như vậy.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Nếu thấy có người đến xin, đại Bồ tát phải quan niệm: “Trong đây ai cho, ai nhận, gì là vật cho? Tất cả pháp ấy đều không có tự tánh, vì là rốt ráo không vậy”. Pháp Không tướng thì không có cho, không có giựt. Tại sao? Vì là rốt ráo Không, là nội Không, là ngoại Không, là nội ngoại Không, là đại Không, là đệ Nhứt nghĩa Không, là tự tướng Không. An trụ trong các thứ Không ấy mà bố thí thì đầy đủ Ðàn na ba la mật. Vì đầy đủ Ðàn na ba la mật nên nếu bị đâm chém thân thể hay bị cướp giựt tài vật, Bồ tát nầy liền nghĩ rằng: “Chặt chém ta là ai? Cướp giựt của ta là ai?”. 
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn thấy phương Ðông có hằng sa đại Bồ tát, vào địa ngục làm cho lửa tắt, nước sôi lạnh; dùng ba sự để giáo hóa: một là thần thông, hai là biết tâm niệm kẻ khác, ba là thuyết pháp. Bồ tát nầy dùng sức thần thông làm cho trong địa ngục lửa tắt, nước sôi lạnh; biết tâm niệm kẻ khác, dùng từ bi hỷ xả tùy ý thuyết pháp. Những chúng sanh ấy ở nơi Bồ tát sanh lòng thanh tịnh, thoát khỏi địa ngục rồi lần lần do pháp Tam thừa mà được hết khổ sanh tử. Như phương Ðông, chín phương kia cũng vậy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn quan sát trong hằng sa quốc độ mười phương, thấy chư Bồ tát hầu hạ chư Phật, cung cấp đồ cần dùng, mến kính chư Phật. Nếu chư Phật có dạy bảo thì chư Bồ tát ấy đều hay thọ trì tất cả, nhẫn đến lúc thành Vô thượng Bồ đề trọn chẳng quên sót.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn quan sát mười phương hằng sa quốc độ, thấy chư đại Bồ tát vì Súc sanh mà xả thân thể phân tán các nơi; có súc sanh nào ăn thịt của đại Bồ tát ấy đều sanh lòng mến kính. Do có lòng mến kinh Bồ tát nên thoát ly loài súc sanh, được gặp chư Phật, nghe pháp tu hành, do ba thừa Thanh văn, Bích chi Phật và Phật pháp mà nhập vô dư Niết bàn.
Như vậy, nầy Tu Bồ Ðề! Chư đại Bồ tát làm lợi ích chúng sanh rất nhiều, giáo hóa chúng sanh khiến phát tâm Vô thượng Bồ đề, đúng pháp tu hành nhẫn đến nhập vô dư Niết bàn.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn thấy chư Ðại Bồ tát trong hằng sa quốc độ mười phương trừ những khổ đói khát của hàng ngạ quỷ. Hàng ngạ quỷ nầy đều kính mến Bồ tát. Do sự kính mến Bồ tát nầy mà được thoát ly ngạ quỷ, gặp Phật nghe pháp, tu hành đúng pháp, lần lần do ba thừa Thanh văn, Bích chi Phật, Phật thừa mà nhập vô dư Niết bàn. Ðại Bồ tát vì độ chúng sanh mà thực hành tâm đại bi như vậy.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn thấy chư đại Bồ tát ở trên trời Tứ Thiên Vương thuyết pháp. Cũng thuyết pháp tại cung trời Ðao Lợi, trời Dạ Ma, trời Ðâu Suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa. Chư Thiên nghe Bồ tát thuyết pháp, lần lần do ba thừa mà được diệt độ. Nầy Tu Bồ Ðề! Trong hàng Thiên chúng nầy, nếu có ai say mê ngũ dục, Bồ tát hiện lửa nổi dậy đốt cháy cung điện họ rồi thuyết pháp cho họ: “Nầy chư thiên! Tất cả pháp hữu vi đều vô thường, đâu có an ổn được”.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn thấy hàng Phạm Thiên trong hằng sa
quốc độ ở mười phương thế giới chấp lấy tà kiến. Chư Bồ tát dạy họ xa rời tà kiến mà bảo rằng: “Sao các Ngài ở trong các pháp hư vọng không tướng mà lại sanh tà kiến!”. Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ tâm đại từ vì chúng sanh mà thuyết pháp. Nầy Tu Bồ Ðề! Ðó là pháp hy hữu khó theo kịp của Ðại Bồ tát vậy.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðức Như lai dùng Phật nhãn thấy chư Ðại Bồ tát trong hằng sa quốc độ mười phương thế giới dùng bốn sự để nhiếp lấy chúng sanh. Ðó là bố thí, ái ngữ, lợi ích và đồng sự.
Thế nào là Bồ tát dùng bố thí để nhiếp lấy chúng sanh? Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát dùng hai thứ bố thí để nhiếp lấy chúng sanh. Ðó là tài thí và pháp thí.
Những gì là tài thí nhiếp lấy chúng sanh? Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát đem các thứ bảo vật vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chơn châu, kha bối, san hô…, hoặc đem đồ uống ăn, y phục, mền mùng, phòng nhà, đèn đuốc, hoa hương, anh lạc, hoặc con trai, con gái, hoặc bò dê voi ngựa xe cộ, hoặc đem thân thể mình mà cung cấp cho chúng sanh. Bồ tát bảo chúng sanh rằng: “Các ngươi nếu có cần dùng gì thì đến lấy như đến lấy vật của mình chớ có nghi ngại”. Bố thí xong, Bồ tát nầy dạy cho họ
/45
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây