Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 7 - Kinh Bát Nhã Ba La Mật

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.

 

Chương 33: KINH MA-HA - Phần 1 (trang 281-290)

KINH MA-HA
BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 
PHẨM THẬT TẾ 
THỨ TÁM MƯƠI

Ngài Tu Bồ Ðề bạch đức Phật: Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh rốt ráo bất khả đắc thì Bồ tát vì ai mà thực hành Bát nhã ba la mật?
Ðức Phật bảo Ngài Tu Bồ Ðề:
Bồ tát vì thật tế mà hành Bát nhã ba la mật. Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu thật tế cùng chúng sanh tế dị biệt thì Bồ tát chẳng hành Bát nhã ba la mật. Nhưng do vì thật tế, chúng sanh tế chẳng dị biệt

nên Ðại Bồ tát vì lợi ích chúng sanh mà hành Bát nhã ba la mật.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát vì chẳng phá hoại thật tế mà kiến lập chúng sanh trong thật tế.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu thật tế tức là chúng sanh tế thì Bồ tát kiến lập thật tế ở nơi thật tế. Bạch đức Thế Tôn! Nếu kiến lập thật tế ở nơi thật tế thì là kiến lập tự tánh ở nơi tự tánh. Bạch đức Thế Tôn! Chẳng được kiến lập tự tánh ở nơi tự tánh.
Bạch đức Thế Tôn! Tại sao lúc hành Bát nhã ba la mật đại Bồ tát kiến lập chúng sanh ở nơi thật tế?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Thật tế chẳng thể kiến lập ở thật tế, tự tánh chẳng thể kiến lập ở tự tánh. Nay đại Bồ tát lúc hành Bát nhã ba la mật vì sức phương tiện nên kiến lập chúng sanh ở thật tế. Thật tế chẳng khác chúng sanh tế. Thật tế cùng chúng sanh tế không hai, không khác.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là sức phương tiện của đại Bồ tát? Dùng sức phương tiện ấy, đại Bồ tát lúc hành Bát nhã ba la mật kiến lập chúng sanh ở thật tế, cũng chẳng phá hoại tướng thật tế.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ tát vì sức phương tiện nên kiến lập chúng sanh ở nơi bố thí. Kiến lập xong, Bồ tát nói bố thí rốt ráo rỗng không: Bố thí như vậy trước, sau, chặng giữa đều rỗng không, người thí rỗng không, quả báo bố thí rỗng không, kẻ thọ nhận cũng rỗng không. Nầy các người! Trong thật tế, tất cả pháp ấy đều bất khả đắc. Các người chớ quan niệm bố thí khác, người thí khác, quả bố thí khác, kẻ thọ nhận khác. Nếu các người chẳng quan niệm dị biệt thì bố thí có thể đưa đến mùi vị cam lồ, được quả mùi vị cam lồ. Vì bố thí như thế nên các người chớ chấp trước sắc, chớ chấp trước thọ tưởng hành thức. Tại sao? Bố thí ấy, tướng bố thí rỗng không. Người thí, người thí rỗng không. Quả báo thí, quả báo thí rỗng không. Kẻ thọ nhận, kẻ thọ nhận rỗng không. Trong rỗng không mà bố thí thì bố thí bất khả đắc, người thí bất khả đắc, quả báo thí bất khả đắc, kẻ thọ nhận bất khả đắc. Tại sao? Vì các pháp ấy rốt ráo tự tánh rỗng không vậy.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát vì sức phương tiện nên dạy chúng sanh trì giới, bảo họ rằng: Các người trừ bỏ sát sanh… nhẫn đến trừ bỏ tà kiến. Tại sao? Vì pháp mà các người phân biệt không có tánh như
vậy. Các người nên suy nghĩ kỹ: Những gì là chúng sanh mà muốn giết chết? Dùng những vật gì để giết chết? Nhẫn đến tà kiến cũng suy nghĩ kỹ như vậy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát dùng sức phương tiện như vậy thành tựu chúng sanh. Ðại Bồ tát nầy liền vì chúng sanh mà nói quả báo bố thí, trì giới. Quả báo bố thí, trì giới ấy tự tánh rỗng không. Biết quả báo bố thí, trì giới tự tánh rỗng không rồi, trong ấy chẳng chấp trước. Vì chẳng chấp trước nên tâm chẳng tán loạn hay sanh trí huệ. Dùng trí huệ ấy dứt diệt tất cả kiết sử phiền não nhập vô dư Niết bàn. Trên đây là pháp thế tục, chẳng phải đệ Nhứt thật nghĩa. Tại sao? Vì trong rỗng Không, Không có diệt cũng không có kẻ diệt. Các pháp rốt ráo Không, chánh đó là Niết bàn.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát thấy chúng sanh tâm phiền não giận hờn bèn dạy rằng: Người lại đây! Người nên tu hạnh nhẫn nhục, làm người nhẫn nhục, người nên thích nhẫn nhục. Sân hận của người, tự tánh nó rỗng không. Người nên suy nghĩ kỹ như vầy: Tôi ở trong pháp nào mà giận? Ai là người giận? Người bị giận là ai? Pháp ấy đều Không. Pháp tánh Không ấy không có lúc nào là chẳng rỗng không. Rỗng không ấy chẳng phải do Phật, Bồ tát, Thanh văn, Bích chi Phật
làm ra, cũng chẳng phải do chư Thiên hay quỷ thần làm ra.
Người nên suy nghĩ kỹ như vầy: Giận ai? Ai là người giận? Những gì là sự giận? Tất cả pháp ấy tự tánh rỗng không. Pháp rỗng không không có chỗ giận.
Như vậy, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát dùng pháp nhơn duyên ấy kiến lập chúng sanh nơi tánh Không, thứ lớp lần lần chỉ dạy cho họ được lợi ích vui mừng, cho họ được Vô thượng Bồ đề. Ðây là pháp thế tục, chẳng phải đệ Nhứt thật nghĩa. Tại sao? Vì trong tánh Không ấy không có người được, không có pháp được, không có chỗ được.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðó gọi là pháp thật tế tánh Không. Ðại Bồ tát vì chúng sanh mà hành pháp ấy. Chúng sanh ấy cũng bất khả đắc. Tại sao? Vì tất cả pháp rời lìa tướng chúng sanh vậy.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát vì sức phương tiện nên thấy chúng sanh giải đãi dạy cho họ thân tinh tấn tâm tinh tấn, bảo họ rằng: Nầy các người! Trong tánh Không của các pháp không có giải đãi, không có người giải đãi, tánh của tất cả pháp nầy đều Không, không gì vượt qua tánh Không. Các người sanh thân tinh tấn tâm tinh 
tấn. Vì sanh pháp lành nên chớ có giải đãi. Ðây là pháp lành: Hoặc bố thí, hoặc trì giới, hoặc nhẫn nhục, hoặc tinh tấn, hoặc thiền định, hoặc trí huệ; hoặc các thiền định giải thoát tam muội, hoặc tứ niệm xứ đến bát Thánh đạo; hoặc Không, Vô tướng, Vô tác giải thoát môn… đến mười tám pháp bất cộng. Chớ có giải đãi. Nầy các người! Trong tánh Không của tất cả pháp ấy phải biết không có tướng đối ngại. Trong pháp không đối ngại ấy, không có người giải đãi, không có pháp giải đãi.
Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát dạy chúng sanh cho họ an trụ tánh Không, chẳng rơi vào pháp có hai. Tại sao? Vì trong tánh Không ấy, không có hai, không có dị biệt vậy. Pháp không hai ấy không có chỗ chấp trước được.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành tánh Không Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát dạy chúng sanh cho họ tinh tấn, bảo họ rằng: Nầy các người! Phải siêng năng tinh tấn hoặc bố thí, hoặc trì giới, hoặc nhẫn nhục, hoặc tinh tấn, hoặc thiền định, hoặc trí huệ, hoặc thiền định giải thoát tam muội, hoặc tứ niệm xứ đến bát Thánh đạo phần, hoặc Không Vô tướng Vô tác giải thoát môn, hoặc Phật thập lực, hoặc tứ vô úy, hoặc tứ vô ngại trí, 
hoặc mười tám pháp bất cộng, hoặc đại từ, đại bi. Với các pháp ấy các Người chớ quan niệm là tướng hai, cũng chớ quan niệm là tướng chẳng hai. Tại sao? Vì tánh các pháp ấy đều Không. Pháp tánh Không nầy, chẳng nên dùng tướng hai để quan niệm, cũng chẳng nên dùng tướng chẳng hai để quan niệm.
Như vậy, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát vì sức phương tiện nên thành tựu chúng sanh. Thành tựu chúng sanh xong, thứ đệ dạy cho họ được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, đạo Bích chi Phật, nhập Bồ tát vị, được Vô thượng Bồ đề.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát thấy chúng sanh loạn tâm bèn dùng sức phương tiện vì lợi ích chúng sanh nên bảo họ rằng: Nầy các người! Phải tu thiền định, các Người chớ sanh loạn tưởng, phải sanh nhứt tâm. Tại sao? Tánh của các pháp ấy đều là tánh Không. Trong tánh rỗng không ấy không có pháp để được, hoặc là loạn hoặc là nhứt tâm. Các Người an trụ trong tam muội ấy, chỗ có những tác nghiệp hoặc là thân, là khẩu, là ý; hoặc bố thí, trì giới, nhẫn nhục; hoặc siêng tinh tấn, hành thiền định, tu trí huệ; hoặc hành tứ niệm xứ đến bát Thánh đạo phần; hoặc hành các giải thoát, các
định thứ đệ; hoặc hành Phật thập lực đến đại từ đại bi; hoặc hành ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo; hoặc Thanh văn đạo, Bích chi Phật đạo, Bồ tát đạo, Phật đạo; hoặc quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán; hoặc đạo Bích chi Phật, hoặc Nhứt thiết chủng trí; hoặc thành tựu chúng sanh, hoặc tịnh Phật quốc độ. Các người phải tùy theo sở nguyện của mình mà thực hành để được an trụ tánh Không.
Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật dùng sức phương tiện vì làm lợi ích chúng sanh nên từ khi sơ phát tâm trọn chẳng lười bỏ, thường cầu pháp lành để lợi ích chúng sanh, từ một cõi Phật đến một cõi Phật, theo chư Phật nghe pháp; bỏ thân, thọ thân nhẫn đến Vô thượng Bồ đề trọn chẳng quên mất. Chư Bồ tát ấy thường được các Đà là ni, các căn đầy đủ, đó là thân căn, ngữ căn và ý căn. Tại sao? Vì Ðại Bồ tát nầy thường tu Nhứt thiết chủng trí. Vì tu Nhứt thiết chủng trí nên tất cả đạo hạnh đều tu, hoặc là đạo Thanh văn, đạo Bích chi Phật; hoặc là đạo Bồ tát thần thông. Lúc hành đạo thần thông, Bồ tát thường lợi ích chúng sanh trọn chẳng quên mất. Bồ tát ấy an trụ nơi báo đắc thần thông làm lợi ích chúng sanh, vào trong năm loài sanh tử mà trọn chẳng hao mất. Như vậy, Nầy Tu
Bồ Ðề! Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật an trụ tánh Không dùng thiền định lợi ích chúng sanh.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật an trụ tánh Không, vì sức phương tiện nên lợi ích chúng sanh, bảo họ rằng: Nầy các Người! Phải quán tất cả pháp tánh Không. Các Người nên làm các nghiệp: Hoặc thân nghiệp, hoặc khẩu nghiệp, hoặc ý nghiệp hướng đến mùi vị cam lồ, được quả cam lồ. Trong tánh Không không có pháp thối lui. Tại sao? Tánh Không chẳng có thối lui, cũng không có người thối. Bởi tánh Không chẳng có phải là pháp, cũng chẳng phải là pháp. Ở trong pháp vô sở hữu sao lại có thối(?!).
Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát dạy bảo chúng sanh như vậy, thường chẳng lười bỏ. Bồ tát nầy tự thực hành thập thiện, cũng dạy người khác làm thập thiện. Với năm giới, bát giới trai cũng như vậy. Bồ tát nầy tự hành tứ thiền, cũng dạy người khác hành tứ thiền. Thường tự hành từ, bi, hỷ, xả; tự hành bốn định vô sắc, tự hành tứ niệm xứ đến tám phần Thánh đạo; tự hành Phật thập lực đến mười tám pháp bất cộng, đến tám mươi tùy hình hảo, cũng dạy người khác hành từ tâm nhẫn đến hành tám mươi tùy hình hảo như vậy.
Bồ tát nầy ở trong quả Tu đà hoàn sanh trí huệ nhưng chẳng an trụ trong quả ấy, cũng dạy người khác được quả Tu đà hoàn, nhẫn đến A la hán cũng vậy. Bồ tát nầy tự ở trong đạo Bích chi Phật sanh trí huệ nhưng chẳng an trụ trong đó, cũng dạy người khác được đạo Bích chi Phật. Bồ tát nầy tự mình đến đạo Vô thượng Bồ đề, cũng dạy người khác được đạo Vô thượng Bồ đề. Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật vì sức phương tiện nên trọn chẳng lười bỏ”.
Ngài Tu Bồ Ðề bạch đức Phật:
Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh các pháp thường không. Trong tánh thường rỗng không ấy, chúng sanh bất khả đắc, pháp và phi pháp cũng bất khả đắc thì đại Bồ tát thế nào cầu Nhứt thiết chủng trí?
Ðức Phật bảo Ngài Tu Bồ Ðề:
Ðúng như vậy. Ðúng như lời ông nói, tánh các pháp đều không. Trong tánh Không ấy, chúng sanh bất khả đắc, pháp và phi pháp cũng bất khả đắc. Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu tất cả pháp tánh chẳng Không thì Ðại Bồ tát chẳng y cứ tánh Không thành Vô thượng Bồ đề và vì chúng sanh nói pháp tánh Không.
Nầy Tu Bồ Ðề! Sắc tánh rỗng không, thọ
/45
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây