Chùa Khai Nguyên - Đạo Tràng Tịnh Tông Học Hội Việt NamChùa Khai Nguyên, Đạo Tràng Tịnh Tông Học Hội Việt Nam, ChuaKhaiNguyen.Com - Địa chỉ: Thôn Tây Ninh, xã Đoài Phương, TP. Hà Nội
CHÙA KHAI NGUYÊN
Thôn Tây Ninh - Xã Đoài Phương - TP. Hà Nội
Tìm kinh sách
Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 7 - Kinh Bát Nhã Ba La Mật
Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.
Chương 11: Phẩm Lục Độ Tương Nhiếp - Thứ Sáu Mươi Tám - Phần 2 (trang 79-86)
Bồ tát an trụ Thiền na ba la mật mà nắm lấy Trì giới ba la mật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát an trụ Thiền na ba la mật quán sắc như đống bọt, quán thọ như bong bóng nước, quán tưởng như ánh nắng chói, quán hành như cây chuối, quán thức như huyễn ảo. Lúc quán như vậy, thấy năm ấm là tướng không bền chắc, nghĩ rằng: Chém tôi là ai? Chặt tôi là ai? Ai là thọ, là tưởng, ai là hành, là thức, ai là người mắng, ai là người bị mắng, ai sanh lòng giận?”. Ðây là Bồ tát an trụ Thiền na ba la mật mà nắm lấy nhẫn nhục ba la mật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát an trụ Thiền na ba la mật nhập các thiền định. Các thiền, các định và những tướng thiền chi đó sanh khởi những thứ thần thông: đi trên nước như đất, vào trong đất như nước, có Thiên nhĩ, biết tâm niệm người khác là loạn hay định, biết những đời trước, có Thiên nhãn. Nương năm thần thông đó, Bồ tát từ một Phật độ đến một Phật độ, thân cận cúng dường chư Phật để trồng căn lành, thanh tịnh Phật độ, thành tựu chúng sanh. Ðem công đức Nầy cùng chung với tất cả chúng sanh hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Ðây là Bồ tát an trụ Thiền na ba la mật mà nắm lấy Tinh tấn ba la mật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát an trụ Thiền na ba la mật chẳng thấy có sắc, chẳng thấy có thọ tưởng, hànhthức, chẳng thấy có sáu ba la mật, chẳng thấy có tứ niệm xứ đến Nhứt thiết chủng trí, chẳng thấy có tánh hữu vi, tánh vô vi, vì chẳng thấy có nên chẳng tác, vì chẳng tác nên chẳng sanh, vì chẳng sanh nên chẳng diệt. Tại sao vậy? Vì có Phật hay không Phật vẫn là như: pháp tướng, pháp tánh thường trụ, chẳng sanh, chẳng diệt. Bồ tát nầy thường Nhứt tâm đúng Nhứt thiết chủng trí. Ðây là Bồ tát an trụ Thiền na ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật mà nắm lấy năm ba la mật kia?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật: nội không, nội không bất khả đắc, ngoại không, ngoại không bất khả đắc, nội ngoại không, nội ngoại không bất khả đắc, không không, không không bất khả đắc, nhẫn đến Nhứt thiết pháp không, Nhứt thiết pháp không bất khả đắc. Bồ tát an trụ trong mười bốn không đó, chẳng thấy có tướng sắc hoặc Không hay chẳng không, chẳng thấy có tướng thọ tưởng hành thức hoặc Không hay chẳng Không… nhẫn đến chẳng thấy có Vô Thượng Bồ
đề hoặc không hay chẳng không, chẳng thấy có tánh hữu vi, tánh vô vi hoặc không hay chẳng không. Bồ tát nầy an trụ trong Bát nhã ba la mật như vậy có bố thí đều quán bố thí không. Những gì là không? Người thí, kẻ thọ và tài vật đều không, chẳng cho tâm niệm bỏn sẻn tham trước sanh khởi. Tại sao vậy? Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật từ lúc mới phát tâm đến lúc ngồi đạo tràng không có vọng tưởng phân biệt, như chư Phật lúc được Vô thượng Bồ đề không có tâm tham trước, đại Bồ tát lúc hành Bát nhã ba la mật cũng không có tâm tham trước. Chỗ đáng tôn trọng Nhứt của Bồ tát nầy chính là Bát nhã ba la mật vậy. Ðây là Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật mà nắm lấy Ðàn na ba la mật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật chẳng sanh tâm Thanh văn, Bích chi Phật. Với Bồ tát nầy, bực Thanh văn, Bích chi Phật bất khả đắc, tâm xu hướng Thanh văn, Bích chi Phật cũng bất khả đắc. Bồ tát nầy từ lúc mới phát tâm đến lúc ngồi đạo tràng, trong khoảng thời gian đó tự mình chẳng sát sanh, chẳng bảo người sát sanh, hoan hỷ khen ngợi người chẳng sát sanh… nhẫn đến tự mình không tà kiến, chẳng bảo người tà kiến, ca ngợi pháp chẳng tà kiến, hoan hỷ khen ngợi người chẳng tà kiến. Do
vì nhơn duyên trì giới nầy không có pháp nắm lấy được, hoặc bực Thanh văn, Bích chi Phật huống là những pháp khác. Ðây là Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật nắm lấy Trì giới ba la mật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật phát sanh tùy thuận pháp nhẫn, nghĩ rằng: “trong pháp nầy không có pháp gì hoặc sanh hoặc diệt, hoặc sanh hoặc tử, không có pháp gì hoặc chửi hoặc mắng, hoặc chém hoặc chặt, hoặc trói hoặc đánh, hoặc đạp hoặc giết. Bồ tát nầy từ lúc mới phát tâm đến lúc ngồi đạo tràng, nếu hoặc có tất cả chúng sanh đến mắng chửi, dùng dao gậy ngói đá chém chặt tổn hại, Bồ tát chẳng động tâm, Bồ tát nghĩ rằng: Rất lạ thay, trong pháp nầy chẳng có ai bị mắng giết tổn hại cả mà chúng sanh lại nhận sự khổ não nầy”. Ðây là Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật nắm lấy Nhẫn nhục ba la mật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật vì chúng sanh mà thuyết pháp khiến họ hành sáu ba la mật, dạy họ tu tứ niệm xứ đến bát Thánh đạo, cho họ được quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích Chý Phật, cho họ được quả Vô thượng Bồ đề, chẳng an trụ trong tánh hữu vi, chẳng an trụ trong tánh vô vi. Ðây là Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật mà nắm lấy Tinh tấn ba la mật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật nhập tất cả các tam muội, ngoại trừ tam muội của chư Phật, hoặc tam muội của Thanh văn, của Bích chi Phật, của Bồ tát đều hành, đều nhập cả. Nơi các tâm tam muội đó, Bồ tát nghịch thuận xuất nhập tám bội xả: bội xả thứ nhất là trong có sắc tướng ngoài quán sắc, bội xả thứ hai là trong không sắc tướng ngoài quán sắc, bội xả thứ ba là tịnh bội xả thân tác chứng, bội xả thứ tư là vượt qua tất cả sắc tướng, dứt diệt tướng có đối đãi, vì chẳng nghĩ nhớ các thứ sắc tướng nên nhập hư không vô biên xứ, bội xả thứ năm là vượt qua tất cả hư không xứ, nhập thức vô biên xứ, bội xả thứ sáu là vượt qua tất cả thức xứ, nhập vô sở hữu xứ, bội xả thứ bảy là vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, nhập phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, bội xả thứ tám là vượt qua tất cả phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhập diệt thọ tưởng định. Nơi chánh định tám thứ bội xả, Bồ tát nầy nghịch thuận xuất nhập chín thứ đệ định: bốn thiền, bốn định vô sắc và diệt thọ tưởng định. Bồ tát nầy nói tám bội xả và chín thứ đệ định mà nhập sư tử phấn tấn tam muội: nhập sơ thiền, xuất sơ thiền, nhập nhị thiền… nhẫn đến xuất phi phi tưởng xứ định, diệt tận định, xuất diệt tận định nhập phi phi tưởng xứ định… nhẫn đến xuất nhị thiền nhập sơ
thiền. Bồ tát nầy y nơi sư tử phấn tấn tam muội mà nhập siêu việt tam muội: nhập sơ thiền, xuất sơ thiền nhập nhị thiền… nhẫn đến xuất phi phi tưởng xứ nhập diệt thọ tưởng định, xuất diệt tận định nhập sơ thiền, xuất sơ thiền nhập diệt tận định, xuất diệt tận định nhập nhị thiền, xuất nhị thiền nhập diệt tận định, xuất diệt tận định nhập tam thiền, xuất tam thiền nhập diệt tận định, xuất diệt tận định nhập hư không xứ, xuất hư không xứ nhập diệt tận định, xuất diệt tận định nhập thức xứ, xuất thức xứ nhập diệt tận định nhập thức xứ, xuất thức xứ nhập diệt tận định, xuất diệt tận định nhập vô sở hữu xứ, xuất vô sở hửu xứ nhập diệt tận định, xuất diệt tận định nhập phi phi tưởng xứ, xuất phi phi tưởng xứ nhập diệt tận định nhập tán tâm; ra tán tâm nhập diệt tận định, xuất diệt tận định lại nhập tán tâm, ra tán tâm nhập phi phi tưởng xứ, xuất phi phi tưởng xứ lại vào tán tâm, ra tán tâm nhập vô sỡ hữu xứ, xuất vô sở hữu xứ vào tán tâm, ra tán tâm nhập thức xứ, xuất thức xứ vào tán tâm, ra tán tâm nhập không xứ, xuất không xứ vào tán tâm, ra tán tâm nhập tứ thiền, xuất tứ thiền vào tán tâm, ra tán tâm nhập tam thiền, xuất tam thiền vào tán tâm, ra tán tâm nhập nhị thiền, xuất nhị thiền vào tán tâm,
ra tán tâm nhập sơ thiền, xuất sơ thiền vào tán tâm. Bồ tát nầy ở nơi siêu việt tam muội chứng được tướng bình đẳng của tất cả pháp. Ðây là Bồ tát an trụ Bát nhã ba la mật mà nắm lấy Thiền na ba la mật.