Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 7 - Kinh Bát Nhã Ba La Mật

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.

 

Chương 13: Phẩm Đại Phương Tiện - Thứ Sáu Mươi Chín - Phần 2 (trang 97-110)

Nếu Bồ tát lại nghĩ rằng: “chư Phật vì biết các pháp không thọ, không thưởng nên được Vô thượng Bồ đề”. Nếu Bồ tát diễn thuyết khai thị dạy bảo như vậy thì mất Bát nhã ba la mật. Tại sao? Vì đối với các pháp, chư Phật không chỗ biết, không chỗ được, cũng không có pháp nói được huống là có chỗ được. Không bao giờ có như vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát hành Bát nhã ba la mật làm sao không bị lỗi lầm đó?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật nghĩ rằng: “Các pháp vô sở hữu, chẳng lấy được. Nếu pháp đã là vô sở hữu, không lấy được thì là vô sở đắc”. Hành như vậy chính là hành Bát nhã ba la mật. Nếu Bồ tát chấp trước pháp vô sở hữu thì xa rời Bát nhã ba la mật. Tại sao? Vì trong Bát nhã ba la mật không có pháp chấp trước vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật xa rời Bát nhã ba la mật chăng? Ðàn na ba la mật xa rời Ðàn na ba la mật chăng? Nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí xa rời Nhứt thiết chủng trí chăng? Nếu như vậy thì làm sao Bồ tát được Bát nhã ba la mật nhẫn đến được Nhứt thiết chủng trí?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát không quan niệm Sắc: “Đây là sắc, là
sắc gì? Nhẫn đến không quan niệm Nhứt thiết chủng trí: đây là Nhứt thiết chủng trí, Nhứt thiết chủng trí gì? Như vậy là Bồ tát đó hay sanh được Bát nhã ba la mật nhẫn đến hay sanh được Nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát chẳng quán sắc là thường hay vô thường, là khổ hay lạc, là ngã hay vô ngã, là không hay bất không, là Ly hay phi Ly. Tại sao? Vì tự tánh chẳng sanh được tự tánh. Nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí cũng như vậy. Nếu hành Bát nhã ba la mật mà quán sắc nhẫn đến quán Nhứt thiết chủng trí như vậy, thì Bồ tát hay sanh được Bát nhã ba la mật nhẫn đến hay sanh được Nhứt thiết chủng trí. Như Chuyển Luân Thánh Vương đến chốn nào thì bốn binh chủng đều tùy tùng.Cũng vậy, Bát nhã ba la mật đến đâu thì năm ba la mật đều tùy tùng theo, đến an trụ trong Nhứt thiết chủng trí. Như giỏ đánh xe tứ mã chẳng lạc được bằng thẳng thì tùy ý đến chỗ muốn. Cũng vậy, Bát nhã ba la mật ngồi trên năm Bát nhã ba la mật chẳng mất chánh đạo đến Nhứt thiết chủng trí.
- Bạch đức Thế Tôn! Gì là đạo, gì là phi đạo của đại Bồ tát?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðạo Thanh văn, đạo Bích
chi Phật chẳng phải là đạo của Bồ tát. Ðạo Nhứt thiết trí là đạo của Bồ tát. Ðó gọi là đạo và phi đạo của đại Bồ tát.
- Bạch đức Thế Tôn! Chư đại Bồ tát vì đại sự mà phát khởi Bát nhã ba la mật đó là: hiển thị, là đạo, là phi đạo.
- Đúng như vậy. Nầy Tu Bồ Ðề! Vị đại sư mà Bát nhã ba la mật phát khởi đó là: Hiển thị là đạo, là phi đạo.
Nầy tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật vì độ vô lượng chúng sanh mà phát khởi, vì lợi ích vô số chúng sanh mà phát khởi. Dầu làm sự lợi ích đó mà Bát nhã ba la mật chẳng thọ sắc, chẳng thọ tưởng hành thức, cũng chẳng thọ bực Thanh văn, Bích chi Phật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bát nhã ba la mật là hướng đạo của chư đại Bồ tát, chỉ bày Vô thượng Bồ đề, hay xa rời bực Thanh văn, bực Bích chi Phật mà an trụ Nhứt thiết chủng trí. Vì Bát nhã ba la mật không sanh, không diệt, các pháp thường trụ vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu Bát nhã ba la mật không sanh, không diệt, chư đại Bồ tát lúc hành Bát nhã ba la mật sao lại phải bố thí, phải trì giới,
phải nhẫn nhục, phải tinh tấn, phải thiền định? Sao lại phải tu trí huệ?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát niệm Nhứt thiết chủng trí phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Ðại Bồ tát đem công đức đó cùng chung với tất cả chúng sanh hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Hồ hướng như vậy thì trọn vẹn sáu ba la mật và tâm từ bi cùng các công đức.
Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát chẳng xa rời sáu ba la mật thì chẳng rời Nhứt thiết chủng trí. Thế nên đại Bồ tát muốn được Vô thượng Bồ đề thì phải học, phải hành sáu ba la mật. Ðại Bồ tát hành sáu ba la mật thì đầy đủ tất cả các căn lành, sẽ được Vô thượng Bồ đề. Thế nên đại Bồ tát phải tập hành sáu ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát phải tập hành sáu ba la mật thế nào?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát phải quán như thế nầy: “Sắc chẳng hiệp, chẳng tan. Thọ, tưởng, hành và thức chẳng hiệp, chẳng tan. Nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí chẳng hiệp, chẳng tan”. Ðây gọi là đại Bồ tát tập hành sáu ba la mật.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát phải suy nghĩ như vầy: “Tôi chẳng nên trụ trong sắc, tôi chẳng nên trụ trong thọ tưởng hành thức. Nhẫn đến tôi
chẳng nên trụ trong Nhứt thiết chủng trí. Tại sao vậy? Vì sắc không chỗ trụ, vì thọ tưởng hành thức không chỗ trụ. Nhẫn đến vì Nhứt thiết chủng trí không chỗ trụ”. Ðại Bồ tát cùng pháp vô trụ tập hành sáu ba la mật thì sẽ được Vô thượng Bồ đề.
Nầy Tu Bồ Ðề! Như có người muốn ăn trái am la, trái ba na bà thì phải gieo hột của nó, rồi tùy thời mà tưới bón vun vén, cây đó lần lần mọc lớn, đến thời tiết hòa hiệp thì có trái để được ăn. Cũng vậy, đại Bồ tát muốn được Vô thượng Bồ đề phải học sáu ba la mật: dùng bố thí để nhiếp lấy chúng sanh, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ để nhiếp thủ chúng sanh, độ chúng sanh thoát sanh tử. Ðại Bồ tát hành như vậy sẽ được Vô thượng Bồ đề.
Thế nên, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát muốn chẳng theo lời người thì phải học Bát nhã ba la mật. Muốn tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, muốn ngồi đạo tràng, muốn chuyển pháp luân thì phải học Bát nhã ba la mật. Ðại Bồ tát muốn ở nơi tất cả pháp được tự tại thì phải học Bát nhã ba la mật. Học Bát nhã ba la mật nầy thì được tự tại ở trong tất cả pháp.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! ở trong tất cả các pháp, Bát nhã ba la mật là tối đại. Như biển cả là tối
đại trong muôn dòng sông. Thế nên người muốn cầu Thanh văn, Bích chi Phật và Bồ tát đạo thì phải học Bát nhã ba la mật nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí.
Nầy Tu Bồ Ðề! Như nhà thiện xạ, tay cầm cung tên như ý thì chẳng sợ giặc thù. Cũng vậy, đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật thì ma và thiên ma chẳng phá hoại được. Thế nên đại Bồ tát muốn được Vô thượng Bồ đề thì phải hành Bát nhã ba la mật. Bồ tát hành Bát nhã ba la mật nầy được chư Phật mười phương hộ niệm.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào chư Phật mười phương hộ niệm cho đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát lúc hành Ðà na ba la mật, chư Phật mười phương đều hộ niệm, lúc hành Thi la ba la mật, Sằn đề ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật, Thiền na ba la mật, Bát nhã ba la mật thì chư Phật mười phương đều hộ niệm. Hộ niệm thế nào? “Bố thí bất khả đắc, trì giới nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí bất khả đắc”. Ðại Bồ tát có thể chẳng được các pháp như vậy thì chư Phật đều hộ niệm đại Bồ tát.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! Chư Phật chẳng vì sắc, chẳng vì thọ tưởng hành thức mà niệm, nhẫn đến chẳng vì Nhứt thiết chủng trí mà niệm.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát chỗ học rất nhiều, thật ra không chỗ học.
- Ðúng như vậy. Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bố Tát chỗ học rất nhiều, thật ra không chỗ học. Tại sao? Vì đại Bồ tát chỗ học các pháp đều bất khả đắc.
- Bạch đức Thế Tôn! Chỗ thuyết pháp hoặc lược, hoặc rộng của Đức Phật. Ở trong các pháp đó, chư đại Bồ tát muốn cầu Vô thượng Bồ đề, đối với sáu ba la mật hoặc lược, hoặc rộng phải thọ trì, đọc tụng, rồi suy gẫm chánh quán, vì tâm và tâm sở chẳng hiện hành vậy.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðúng như vậy. Ðại Bồ tát học sáu ba la mật hoặc lược, hoặc rộng thì phải biết tướng lược, tướng rộng của tất cả pháp.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát biết tướng lược, rộng của tất cả pháp thế nào?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Biết sắc tướng như biết thọ tưởng hành thức tướng như, nhẫn đến biết Nhứt thiết chủng trí tướng như. Ðó là biết được tướng lược và rộng của tất cả pháp.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là tướng như của sắc, thế nào là tướng như của thọ tưởng hành thức… nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Sắc ấy như: không sanh, không diệt, không trụ, không dị, đây gọi là
tướng của sắc. Nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí như: không sanh, không diệt, không trụ, không dị, đây gọi là tướng như của Nhứt thiết chủng trí. Trong đây đại Bồ tát cần phải học.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát lúc biết thật tế của các pháp, đó là biết tướng lược và rộng của tất cả pháp.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là thật tế của các pháp?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Vô tế gọi là thật tế. Bồ tát học thật tế nầy thì biết tướng lược, rộng tất cả pháp. Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát biết pháp tánh của các pháp thì biết được tướng lược, rộng của tất cả pháp.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là pháp tánh của các pháp?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Sắc tánh gọi là pháp tánh. Tánh đó không phần, không phi phần. Vì biết pháp tánh mà Bồ tát biết tướng lược, rộng của tất cả pháp.
- Bạch đức Thế Tôn! Lại phải biết thế nào biết tướng lược, rộng của tất cả pháp?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát biết tất cả pháp chẳng hiệp, chẳng tan.
- Bạch đức Thế Tôn! Những pháp gì chẳng hiệp, chẳng tan?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Sắc chẳng hiệp, chẳng tan. Thọ tưởng hành thức chẳng hiệp, chẳng tan. Nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí chẳng hiệp, chẳng tan. Hữu vi tánh, vô vi tánh chẳng hiệp, chẳng tan. Tại sao? Vì các pháp đó tự tánh Không thì làm sao có hiệp có tan! Nếu các pháp đã là tự tánh Không thì là phi pháp. Pháp cùng phi pháp chẳng hiệp, chẳng tan. Phải nên biết tướng lược, rộng của tất cả pháp như vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðó gọi là đại Bồ tát lược nhiếp Bát nhã ba la mật. Bạch đức Thế Tôn! Trong lược nhiếp Bát nhã ba la mật Nầy, hàng Bồ tát mới phát tâm cần phải học, nhẫn đến đại Bồ tát bực thập địa cũng phải học. Ðại Bố Tát học lược nhiếp Bát nhã ba la mật nầy thì biết tướng lược, rộng của tất cả pháp. Bạch đức Thế Tôn! Pháp môn nầy, bực đại Bồ tát lợi căn có thể nhập được.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Bực Bồ tát độn căn cũng nhập được pháp môn Nầy. Bực Bồ tát trung căn và Bồ tát tán tâm cũng nhập được môn nầy. Pháp môn Nầy không trở ngại. Nếu đại Bồ tát Nhứt tâm học, đều nhập được pháp môn nầy. Người giải đãi
) ít tinh tấn, vọng ức niệm loạn tâm thì chẳng nhập được. Người tinh tấn chẳng giải đãi, chánh ức niệm nhiếp tâm thì vào được. Người muốn trụ bực bất thối chuyển, người muốn đến Nhứt thiết chủng trí thì vào được. Các Bồ tát nầy phải học đúng như Bát nhã ba la mật đã nói, nhẫn đến phải học đúng như Ðàn na ba la mật đã nói. Ðại Bồ tát nầy sẽ được Nhứt thiết chủng trí. Ðại Bồ tát nầy hành Bát nhã ba la mật, nếu có bao nhiêu ma sự vừa phát sanh thì liền diệt mất.
Vì thế nên đại Bồ tát muốn có sức phương tiện thì phải hành Bát nhã ba la mật. Nếu đại Bồ tát hành, tập và tu Bát nhã ba la mật như vậy thì được hiện tại chư Phật trong vô lượng vô số thế giới hộ niệm. Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật nầy xuất sanh chư Phật quá khứ, chư Phật vị lai và chư Phật hiện tại. Thế nên đại Bồ tát phải nghĩ rằng pháp của tam thế chư Phật được, tôi cũng sẽ được như vậy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát phải tập Bát nhã ba la mật. Nếu tập Bát nhã ba la mật như vậy, thì màu được Vô thượng Bồ đề. Do đó nên đại Bồ tát thường chẳng được xa rời tâm Nhứt thiết chủng trí. Nếu đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật như vậy, nhẫn đến chừng khoảng khẩy ngón tay, được phước đức rất nhiều.
Nếu có người giáo hóa chúng sanh trong cõi Ðại Thiên bố thí vô giá, dạy họ trì giới, thiền định, trí huệ, dạy học được giải thoát, giải thoát tri kiến, dạy họ được quả Tu đà hoàn đến quả Bích chi Phật, vẫn chẳng bằng Bồ tát nầy tu Bát nhã ba la mật chừng khoảng khẩy móng tay. Tại sao? Vì trong Bát nhã ba la mật hay xuất sanh bố thí đến trí huệ, hay xuất sanh quả Tu đà hoàn đến quả Bích chi Phật. Chư Phật hiện tại mười phương đều từ trong Bát nhã ba la mật nầy mà xuất sanh. Chư Phật quá khứ, chư Phật vị lai cũng đều từ trong Bát nhã ba la mật mà xuất sanh.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát đúng tâm Nhứt thiết chủng trí mà hành Bát nhã ba la mật, hoặc chừng khoảng khẩy ngón tay, hoặc nửa ngày hay một ngày, một tháng, trăm ngày, một năm, hoặc trăm năm, một kiếp, trăm kiếp, nhẫn đến hoặc vô lượng vô biên vô số kiếp. Bồ tát đó tu Bát nhã ba la mật nầy được phước đức rất nhiều, hơn là dạy chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười phương bố thí, trì giới, thiền định, trí huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, được quả Tu đà hoàn đến quả Bích chi Phật. Tại sao? Vì chư Phật xuất sanh từ trong Bát nhã ba la mật tuyên thuyết bố thí đến giải thoát tri kiến, tuyên thuyết quả Tu đà hoàn đến quả Bích chi Phật.
Nếu có đại Bồ tát an trụ đúng như Bát nhã ba la mật đã nói, phải biết đó là bực Bồ tát bất thối chuyển được chư Phật hộ niệm. Sức phương tiện như vậy thành tựu, phải biết Bồ tát đó gần gũi cúng dường vô lượng ngàn muôn ức chư Phật, trồng căn lành, theo sát các bực thiện tri thức, từ lâu đã hành sáu ba la mật, từ lâu đã tu mười tám không, tứ niệm xứ đến bát Thánh đạo, mười trí lực đến Nhứt thiết chủng trí. Phải biết đại Bồ tát đó trụ bực Pháp Vương Tử, đầy đủ các hạnh nguyện, thường chẳng rời chư Phật, chẳng rời căn lành, từ một cõi Phật đến một cõi Phật. Phải biết Bồ tát đó biện tài vô tận, đầy đủ đà la ni, thân sắc đầy đủ, thọ ký đầy đủ, vì chúng sanh mà thọ lấy thân. Phải biết Bồ tát đó giỏi tự môn, giỏi biết phi tự môn. Khéo nơi nói, khéo nơi chẳng nói. Khéo nơi một lời, hai lời và nhiều lời. Khéo biết tướng nữ, tiếng nam. Khéo biết sắc nhẫn đến thức. Khéo biết tánh thế gian, tánh Niết bàn. Khéo biết các pháp tướng. Khéo biết tánh hữu vi, tướng vô vi, khéo biết pháp hữu, pháp vô. Khéo biết tự tánh, tha tánh. Khéo biết pháp hiệp, pháp tan. Khéo biết pháp tương ứng, pháp chẳng tương ứng. Khéo biết như và chẳng như. Khéo biết pháp tánh, pháp vị. Khép biết duyên và không duyên. Khéo biết ấm nhập và giới. Khéo
biết tứ đế, khéo biết mười hai nhơn duyên. Khéo biết tứ thiền, tứ vô lượng tâm và tứ vô sắc định. Khéo biết sáu ba la mật, tứ niệm xứ nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí. Khéo biết tánh hữu vi, tánh vô vi. Khéo biết tánh có, tánh Không. Khéo biết quán sắc, quán thọ tưởng hành thức, nhẫn đến quán Nhứt thiết chủng trí. Khéo biết sắc sắc tướng không nhẫn đến Bồ Ðề Bồ Ðề tướng không. Khéo biết xả đạo và chẳng xả đạo. Khéo biết sanh và diệt. Khéo biết trụ và dị. Khéo biết dục, sân, si. Khéo biết chẳng dục, chẳng sân, chẳng si. Khéo biết kiến và bất kiến. Khéo biết tất cả kiến. Khéo biết danh, khéo biết sắc, khéo biết danh sắc, khéo biết nhơn duyên, thứ đệ duyên, duyên duyên, tăng thượng duyên. Khéo biết hành tướng, khéo biết khổ. Khéo biết tập, khéo biết diệt, khéo biết đạo. Khéo biết Ngạ quỷ và Ngạ quỷ thú. Khéo biết súc sanh và Súc sanh thú. Khéo biết Nhơn và Nhơn thú. Khéo biết Thiên và Thiên thú. Khéo biết Tu đà hoàn. Khéo biết Tư đà hàm, quả Tư đà hàm và đạo Tư đà hàm. Khéo biết A na hàm, quả A na hàm và đạo A na hàm. Khéo biết A la hán và đạo A la hán. Khéo biết Bích chi Phật, quả
Bính chi Phật và đạo Bích chi Phật. Khéo biết Phật, Nhứt thiết chủng trí và đạo Nhứt thiết chủng trí. Khéo biết các căn và đầy đủ các căn. Khéo biết huệ, tật huệ, hữu lực huệ, lợi huệ, xuất huệ, đại huệ, quảng huệ, thâm huệ, đại huệ, vô đẳng huệ, thật huệ. Khéo biết đời quá khứ, đời vị lai, đời hiện tại. Khéo biết phương tiện. Khéo biết thuận chúng sanh. Khéo biết tâm, thân tâm. Khéo biết nghĩa. Khéo biết ngữ. Khéo biết phân biệt Tam thừa.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật, sanh Bát nhã ba la mật, tu Bát nhã ba la mật được những lợi ích như vậy.

*
/45
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây