Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.
Ðức Phật bảo ngài Tu Bồ Ðề: Ý kiến bạn đọc
BÁT-NHÃ BA-LA MẬT
THỨ TÁM MƯƠI TÁM
Ðại Bồ tát cầu Bát nhã ba la mật phải như đại Bồ Tát Tát Ðà Ba Luân. Ðại Bồ tát ấy hiện nay ở chỗ Ðại Lôi Âm Phật mà hành Bồ tát đạo.
Ngài Tu Bồ Ðề bạch đức Phật:
Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát Tát Ðà Ba Luân cầu Bát nhã ba la mật như thế nào?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát Tát Ðà Ba Luân
Bồ tát Tát Ðà Ba Luân đáp:
Tôi sẽ y theo lời dạy. Tại sao vậy? Vì tôi muốn vì tất cả chúng sanh mà làm ánh sáng lớn, tôi muốn tập hợp pháp của tất cả chư Phật, tôi muốn được Vô thượng Bồ đề.
Trên hư không lại có tiếng nói:
Lành thay, lành thay! Người nên có lòng tin pháp không, vô tướng, vô tác. Ðem tâm lý mà cầu Bát nhã ba la mật: ly tướng ngã, nhẫn đến ly tướng tri giả, kiến giả. Người phải xa rời ác tri thức, phải gần gũi cúng dường thiện tri thức. Ai là
Nếu người đi như vậy không lâu sẽ được nghe Bát nhã ba la mật. Hoặc được nghe từ trong quyển kinh, hoặc được nghe từ nơi Bồ tát nói. Chỗ mà người theo đó được nghe Bát nhã ba la mật, người phải xem nơi ấy như Đức Phật. Người phải tri ân, phải nghĩ rằng đây tức là thiện tri thức của tôi. Do nghe pháp Bát nhã ba la mật ấy, tôi sẽ chóng được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề, được ở gần chư Phật, thường sanh trong nước có Phật, xa rời các chướng nạn, được đầy đủ chỗ không chướng nạn.
Người phải suy lường công đức ấy, phải ở chỗ được nghe pháp xem như Đức Phật. Người chớ mống tâm về thế lợi mà theo bên pháp sư, mà chỉ vì ưa thích chánh pháp, chỉ vì kính trọng chánh pháp nên theo bên Bồ tát pháp sư. Lúc bấy giờ người phải cảnh giác biết những ma sự. Nếu ác ma giả vì pháp mà đem ngũ dục đến dâng cho Bồ tát pháp sư. Nếu Bồ tát pháp sư nhập Thật pháp môn vì công đức lực nên nhận lấy, nhưng không hề nhiễm ngũ dục ấy.
Người liền phải quán thật tướng các pháp, nghĩa là tất cả pháp chẳng cấu, chẳng tịnh. Tại sao vậy? Tất cả pháp tự tánh rỗng không, không có chúng sanh, không có ngã, không có nhơn. Tất cả pháp như ảo, như mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm, như huyễn, như hóa. Người quán các pháp thật tướng ấy rồi phải theo pháp sư, không lậu người sẽ thành tựu Bát nhã ba la mật.
Lại nữa, người phải cảnh giác biết ma sự. Nếu Bồ tát pháp sư thấy người muốn học Bát nhã ba la mật mà chẳng để ý đến, thì người chớ có sanh lòng oán hận. Người chỉ phải nên vì pháp mà sanh lòng cung kính, chớ có ý chán lười, phải thường theo bên pháp sư.
Nầy Tu Bồ Ðề! Như người chỉ có một đứa con trai, đứa con ấy bỗng chết, người ấy ưu sầu đau khổ, trong lòng chỉ có sầu khổ chớ chẳng nghĩ gì khác. Cũng vậy, lúc ấy Tát Ðà Ba Luân Bồ tát không nghĩ gì khác ngoài sự mong muốn được biết bao giờ tôi được nghe Bát nhã ba la mật, tai sao tôi không hỏi tiếng trên hư không: “Tôi phải đến xứ nào, xa hay gần, sẽ theo ai để học Bát nhã ba la mật”.
Lúc Tát Ðà Ba Luân Bồ tát buồn nghĩ như vậy, trên hư không có Đức Phật bảo rằng:
Lành thay, lành thay! Nầy thiện nam tử! Chư Phật quá khứ lúc hành Bồ tát đạo, cầu Bát nhã ba la mật cũng như người ngày nay vậy. Người giữ
Nầy thiện nam tử! Trong thành Chúng Hương có tòa đài cao, cung điện của đại Bồ tát Ðàm Vô kiệt ở trên đài ấy. Cung ấy rộng một do tuần, bằng bảy báu nhiều màu trang nghiêm rất đáng ưa thích. Tường rào bảy lớp cũng bằng bảy báu, bao lơn bảy báu, lầu gác bảy báu, hào báu bảy lớp cũng bằng bảy báu chồng chất xây thành, bảy lớp hàng cây, nhánh lá bảy báu, bảy lớp vườn bao quanh. Trong cung điện ấy có bốn khu vườn vui chơi: một khu vườn tên Thường Hỷ, khu thứ hai tên Ly Ưu, khu thứ ba tên Hoa Sức, khu thứ tư tên Hương Sức. Trong mỗi khu vườn có tám
Bốn bên ao, mỗi mặt riêng một thứ báu: hoàng kim, bạch ngân, lưu ly và pha lê. Ngọc mai côi làm đáy ao, trên trải cát hoàng kim. Cạnh mỗi ao đều có thềm bực bằng các thứ báu. Khoảng giữa thềm bực có hàng cây Ba tiêu bằng vàng Diêm phù đàn. Trong tất cả ao đều có hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng che trùm mặt nước. Bốn bên các ao đều có cây hoa đẹp, gió thổi các hoa rơi vào trong nước ao. Nước ao có đủ tám công đức, thơm như chiên đàn, đầy đủ màu sắc và mùi vị, vừa nhẹ vừa nhu nhuyễn. Ðàm Vô Kiệt Bồ tát cùng sáu muôn tám ngàn thể nữ, ngũ dục đầy đủ, chung vui cùng hưởng. Nhơn dân trong thành cùng vào các vườn Thường Hỷ và ao Hiền v.v…, ngũ dục đầy đủ, cùng chung vui cùng hưởng.
Nầy thiện nam tử! Sau khi cùng các thể nữ dạo chơi vui thú xong, ngày ba thời, Ðàm Vô Kiệt Bồ tát giảng thuyết Bát nhã ba la mật. Nam nữ lớn nhỏ trong thành Chúng Hương chọn nơi đông người tụ họp, thiết lập pháp tòa lớn. Bốn chân pháp tọa ấy hoặc bằng hoàng kim, hoặc bằng
Ðàm Vô Kiệt Bồ tát ngồi trên pháp tòa ấy giảng thuyết Bát nhã ba la mật. Nhơn chúng nơi thành ấy cúng dường cung kính Ðàm Vô kiệt Bồ tát để nghe Bát nhã ba la mật. Ðại hội ấy có trăm ngàn vạn chúng, chư Thiên cùng người thế gian hòa hiệp một chỗ. Trong đó có người lắng nghe, có người thọ, có người trì, có người tụng, có người biên, có người chánh quán, có người thực hành đúng theo lời dạy. Bấy giờ do nhơn duyên ấy nên chúng sanh đều chẳng đọa ác đạo, chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề.
Nầy thiện nam tử! Người qua đến chỗ Ðàm Vô Kiệt Bồ tát sẽ được nghe Bát nhã ba la mật. Ðàm Vô Kiệt Bồ tát là thiện tri thức trong nhiều đời trước của người, hay dạy cho người Vô thượng Bồ đề, chỉ dạy cho người được lợi ích vui mừng. Thuở trước, lúc Ðàm Vô Kiệt Bồ tát cầu Bát nhã ba la mật cũng như người ngày nay.
Khi nghe lời chỉ bảo trên hư không, Tát Ðà Ba Luân Bồ tát lòng rất vui mừng nghĩ rằng: “Bao giờ tôi sẽ được thấy vị thiện tri thức ấy để được nghe Bát nhã ba la mật”.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ví như có người trúng phải tên độc, trong lòng người ấy không nghĩ gì khác, chỉ nghĩ rằng: “Lúc nào gặp được lương y nhổ tên độc ra, chữa khỏi nạn khổ cho tôi”. Cũng vậy, Tát Ðà Ba Luân Bồ tát không còn nghỉ gì khác, chỉ tâm nguyện lúc nào tôi được thấy Ðàm Vô Kiệt Bồ tát, cho tôi được nghe Bát nhã ba la mật, dứt hết tâm chấp có.
Ở tại chỗ cũ ấy, Tát Ðà Ba Luân tâm tưởng niệm Ðàm Vô Kiệt Bồ tát, ở trong tất cả pháp được tri kiến vô ngại, liền được vô lượng môn tam muội hiện tiền, đó là: Chư pháp tánh quán tam muội, Chư pháp tánh bất khả đắc tam muội, Phá Chư pháp vô minh tam muội, Chư pháp bất dị tam muội, Chư pháp bất hoại tự tại tam muội, Chư pháp năng chiếu minh tam muội, Chư pháp ly ám tam muội, Chư pháp vô dị tương tục tam muội, Chư pháp bất khả đắc tam muội, Tán hoa tam muội, Chư pháp vô ngã tam muội, Như huyễn oai thế tam muội, Đắc như cảnh tượng tam