Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 7 - Kinh Bát Nhã Ba La Mật

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.

 

Chương 29: Phẩm Tứ Nhiếp - Thứ Bảy Mươi Tám - Phần 2 (trang 241-250)

pháp tam quy: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Hoặc dạy họ thọ Ngũ giới, thọ Bát quan trai giới; hoặc dạy Sơ thiền, nhẫn đến Phi tưởng, phi phi tưởng định, hoặc dạy từ bi hỷ xả; hoặc dạy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm Xả, niệm Thiên, hoặc dạy quán bất tịnh, quán xuất nhập tức; hoặc tướng hoặc xúc, hoặc dạy họ tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát Thánh đạo phần, Không tam muội, Vô tướng tam muội, Vô tác tam muội, bát bội xả, cửu thứ đệ định, thập lực, tứ vô úy, tứ vô ngại trí, thập bát bất cộng pháp, đại từ đại bi, ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo; hoặc dạy quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, đạo Bích chi Phật; hoặc dạy Vô thượng Bồ đề.
Như vậy, nầy Tu Bồ Ðề! Hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát dùng sức phương tiện giáo hóa chúng sanh: tài thí xong lại dạy cho họ được Niết bàn an ổn vô thượng. Ðây gọi là pháp hy hữu khó theo kịp của đại Bồ tát.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là Bồ tát dùng pháp thí nhiếp chúng sanh? Nầy Tu Bồ Ðề! Pháp thí có hai thứ: một là thế gian, hai là xuất thế gian?
Những gì là pháp thí thế gian? Trình bày dạy rõ pháp thế gian như là quán bất tịnh, quán xuất
nhập tức, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định. Những pháp thế gian như vậy với những pháp cùng đồng với pháp sở hành của phàm phu, thì gọi là pháp thí thế gian. Bồ tát nầy pháp thí thế gian như vậy rồi dùng nhiều các giáo hóa cho họ xa rời pháp thế gian. Xa rời pháp thế gian xong, Bồ tát dùng sức phương tiện làm cho họ được pháp vô lậu của bực Thánh và quả vô lậu của bực Thánh. Những gì là pháp vô lậu của bực Thánh? Những gì là quả vô lậu của bực Thánh? Pháp vô lậu của bực Tháh là ba mươi bảy phẩm trợ đạo và ba môn giải thoát. Quả vô lậu của bực Thánh là quả Tu đà hoàn, nhẫn đến quả A la hán, đạo Bích chi Phật, Vô thượng Bồ đề.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Pháp Thánh vô lậu của đại Bồ tát còn có trí huệ trong quả Tu đà hoàn nhẫn đến trí huệ trong quả A la hán, trí huệ trong đạo Bích chi Phật, trí huệ trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trí huệ trong sáu ba la mật nhẫn đến trí huệ trong đại từ đại bi. Tất cả pháp như vậy, hoặc pháp thế gian, xuất thế gian, trí huệ, hoặc hữu lậu hoặc vô lậu, hoặc hữu vi hoặc vô vi, Nhứt thiết chủng trí trong pháp ấy thì gọi là pháp Thánh vô lậu của Ðại Bồ tát. Những gì là quả Thánh vô lậu? Dứt tất cả chủng tập phiền não thì gọi quả Thánh vô lậu.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát có được Nhứt thiết chủng trí chăng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðúng như vậy, đại Bồ tát được Nhứt thiết chủng trí.
- Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát với Phật có những gì khác?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Có khác. Ðại Bồ tát được Nhứt thiết chủng trí thì gọi là Phật. Tại sao? Vì tâm Bồ tát cùng tâm Phật không khác. Bồ tát an trụ trong Nhứt thiết chủng trí, đối với tất cả pháp không pháp nào chẳng soi sáng. Ðây gọi là Ðại Bồ tát thế gian pháp thí.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát nhơn thế gian pháp thí mà được xuất thế gian pháp thí. Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát giáo hóa chúng sanh cho họ được pháp thế gian, dùng sức phương tiện dạy cho họ được pháp xuất thế gian.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp xuất thế gian của Bồ tát? Những pháp chẳng cùng đồng với pháp phàm phu. Ðó là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát Thánh đạo phần, tám giải thoát môn, bát bội xả, cửu thứ đệ định, thập lực, tứ vô úy, tứ vô ngại trí, thập bát bất cộng pháp, ba mươi hai
tướng, tám mươi tùy hình hảo, năm trăm Đà la ni môn. Ðây gọi là pháp xuất thế gian.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là tứ niệm xứ? Ðại Bồ tát quán nội thân theo thân mà quán sát, quán ngoại thân theo thân mà quán sát, siêng năng tinh tấn dùng Nhứt tâm trí huệ quán sát. Quán tập nhơn của thân do nhơn duyên sanh, quán thân diệt, quán sát hành sanh diệt của thân tập, đạo nầy không sở y, nơi thế gian không sở thọ. Ðó là thân niệm xứ. Thọ niệm xứ, tâm niệm xứ, pháp niệm xứ cũng như vậy. 
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là tứ chánh cần? Những pháp ác bất thiện chưa sanh nên siêng năn tinh tấn. Những pháp ác bất thiện đã sanh, vì dứt trừ nên siêng năng tinh tấn. Những pháp thiện chưa sanh, vì sanh khởi nên siêng năng tinh tấn. Những pháp thiện đã sanh, vì thêm lớn đầy đủ nên siêng năng tinh tấn. Ðây gọi tứ chánh cần.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là tứ như ý túc? Nguyện dục tam muội quyết đoán thực hành thành tựu. Tinh tấn tam muội quyết đoán thực hành thành tựu. Nhứt tâm tam muội quyết đoán thực hành thành tựu. Tư duy tam muội quyết đoán thực hành thành tựu. Ðây gọi là tứ như ý túc.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là ngũ căn? Ðó là tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là ngũ lực? Ðó là tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực.
Thế nào là thất giác phần? Ðó là niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỷ giác phần, khinh an giác phần, định giác phần và xả giác phần.
Thế nào là bát Thánh đạo phần? Ðó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Thế nào là Tam tam muội? Ðó là Không tam muội môn, Vô tướng tam muội môn và Vô tác tam muội môn. Thế nào là Không tam muội? Dùng không hành và vô ngã hành để nhiếp tâm gọi là Không tam muội. Thế nào là Vô tướng tam muội? Dùng tịch diệt hành và ly hành để nhiếp tâm gọi là Vô tướng tam muội. Thế nào là Vô tác tam muội? Dùng vô thường hành và khổ hành để nhiếp tâm gọi là Vô tác tam muội.
Thế nào là bát bội xả? Trong có tướng sắc, ngoài quán sắc là bội xả thứ nhứt. Trong không tướng sắc, ngoài quán sắc là bội xả thứ hai.  Tịnh bội xả là bội xả thứ ba. Qua khỏi tất cả tướng sắc,
diệt tướng có đối ngại, vì chẳng nghĩ đến tất cả tướng dị biệt mà quán hư không vô biên nhập Vô biên hư không xứ, là bội xả thứ tư… Nhẫn đến qua khỏi phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, nhập Diệt thọ tưởng bội xả, là bội xả thứ tám.
Thế nào là cửu thứ đệ định? Hành giả rời lìa pháp ái dục, ác bất thiện có giác, có quán, ly dục, sanh hỷ lạc nhập Sơ thiền… nhẫn đến qua khỏi Phi phi tưởng xứ, nhập Diệt thọ tưởng định, gọi là cửu thứ đệ định.
Thế nào là mười trí lực của Phật?
Sức trí biết đúng thật phải chỗ, chẳng phải chỗ. Sức trí biết đúng thật về những nghiệp, những thọ, biết chỗ tạo nghiệp, biết nhơn duyên, biết quả báo suốt thuở quá khứ hiện tại và vị lai của chúng sanh. Sức trí biết đúng thật tất cả thiền định, giải thoát tam muội. Sức trí biết đúng thật căn tánh thượng, trung hay hạ của tất cả chúng sanh. Sức trí biết đúng thật những tri kiến hiểu biết và chỗ thích muốn của tất cả chúng sanh. Sức trí biết đúng thật những cảnh giới sai khác của tất cả chúng sanh. Sức trí biết đúng thật chỗ được đến của tất cả đạo hạnh. Sức trí biết đúng thật đời trước của tất cả chúng sanh từ một kiếp đến vô lượng kiếp. Sức trí biết đúng thật, dùng Thiên nhãn thấy chúng sanh
sanh về đường lành, đường dữ nhẫn đến nhập Niết bàn. Sức trí biết đúng thật vô lậu tam giải thoát. Ðây là mười trí lực của Phật”.
Ðức Phật bảo Ngài Tu Bồ Ðề: Thế nào là tứ vô sở úy?
Ðức Phật nói lời thành thật rằng: Ta là người nhứt thiết chánh trí. Nếu có Sa môn hay Bà la môn, hoặc chư Thiên, Ma vương, Phạm vương, hoặc người nào bảo thật rằng: “Pháp ấy chẳng biết”. Ta cũng chẳng thấy nhẫn đến chút tướng sợ sệt. Vì thế nên Ta được an ổn, được không chỗ trụ, an trụ chỗ của bực Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử rống hay chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả chúng khác, hoặc Sa môn hay Bà la môn, chư Thiên, Ma, Phạm thật chẳng chuyển được. Ðây là sự vô úy thứ nhứt vậy.
Ðức Phật nói lời thành thật rằng: Nơi ta tất cả tập lậu đã hết sạch. Nếu có Sa môn hay Bà la môn, hoặc chư Thiên hay Ma vương, Phạm vương, hoặc những chúng khác như thật nói: “Tập lậu ấy chẳng hết”. Ta cũng chẳng thấy nhẫn đến có chút tướng sợ sệt. Vì thế nên Ta được an ổn, được không sợ sệt, an trụ chỗ của bực Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử
rống hay chuyển pháp luân thanh tịnh, mà các Sa môn hay Bà la môn hoặc chư Thiên, Ma vương, Phạm vương, hoặc những chúng khác thật chẳng chuyển được. Ðây là sự vô úy thứ hai vậy.
Ðức Phật nói lời thành thật rằng: Ta nói đây là pháp chướng đạo. Nếu có Sa môn hay Bà la môn, hoặc chư Thiên hay Ma vương, Phạm vương, hoặc những sanh chúng khác như thật nói: “ Thọ pháp ấy chẳng chướng đạo”. Ta cũng chẳng thấy nhẫn đến có chút tướng sợ sệt. Vì thế nên Ta được an ổn, được không sợ sệt, an trụ chỗ của bực Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử rống hay chuyển pháp luân thanh tịnh, mà các Sa môn hay Bà la môn hoặc chư Thiên, Ma vương, hoặc những chúng khác chẳng chuyển được. Ðây là sự vô úy thứ ba vậy.
Ðức Phật nói lời thành thiêt rằng: Thánh đạo của ta nói có thể ra khỏi thế gian, thật hành theo đây có thể biết khổ. Nếu có Sa môn hay Bà la môn, hoặc chư Thiên, Ma vương, Phạm vương, hoặc những chúng khác như thật nói: “Hành đạo ấy chẳng hay ra khỏi thế gian, chẳng hay hết khổ”. Ta cũng chẳng thấy nhẫn đến có chút tướng sợ sệt. Vì thế nên Ta được an ổn, được không sợ sệt, an trụ chỗ của bực Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử rống hay chuyển 
pháp luân thanh tịnh, mà các Sa môn, Bà la môn hoặc chư Thiên, Ma vương, Phạm vương, hoặc những chúng khác thật chẳng chuyển được. Ðây là sự vô úy thứ tư vậy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là bốn trí vô ngại?
Một là nghĩa vô ngại trí. Hai là pháp vô ngại trí. Ba là Từ vô ngại trí. Bốn là Nhạo thuyết vô ngại trí. Trí huệ duyên nơi Nghĩa là nghĩa vô ngại trí. Trí huệ duyên nơi pháp là Pháp vô ngại trí. Trí huệ duyên nơi ngôn từ là Từ vô ngại trí. Trí huệ duyên nơi nhạo thuyết là Nhạo thuyết vô ngại trí.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là mười tám pháp bất cộng? 
Nơi chư Phật: Một là thân không lỗi, hai là miệng không lỗi. Ba là niệm không lỗi. Bốn là không có tưởng dị biệt. Năm là không có tâm chẳng định. Sáu là không có sự chẳng biết rồi mà bỏ. Bảy là nguyện dục không giảm. Tám là tinh tấn không giảm. Chín là niệm không giảm. Mười là huệ không giảm. Mười một là giải thoát không giảm. Mười hai là giải thoát tri kiến không giảm. Mười ba là tất cả thân nghiệp hành động theo trí huệ. Mười bốn là tất cả khẩu nghiệp hành động theo trí huệ. Mười lăm là tất cả ý nghiệp hành động theo trí huệ. Mười sáu là trí huệ biết đời quá
khứ vô ngại. Mười bảy là trí huệ biết đời vị lai vô ngại. Mười tám là trí huệ biết đời hiện tại vô ngại.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là ba mươi hai tướng?
Một, lòng bàn chân bằng phẳng. Hai, lòng bàn chân làn chỉ xoáy hình bánh xe ngàn căm. Ba, ngón tay và ngón chân dài hơn người khác. Bốn, tay và chân dịu mềm hơn chỗ khác trên thân. Năm, gót chân rộng no đầy đẹp tốt. Sáu, các ngón tay, ngón chân có màn lưới mỏng trong suốt liền nhau, đẹp hơn người khác. Bảy, lưng bàn chân cao bằng đẹp tương xứng với gót chân. Tám, bắp chân thon đẹp như bắp chân của Lộc vương. Chín, đứng thẳng hai tay rờ đến gối. Mười, tướng âm ẩn kín như Mã vương, Tượng vương. Mười một, thân ngang rộng như cội cây Ny câu lô. Mười hai, mỗi lỗ lông mộc một sợi lông màu xanh dịu mềm mà xoắn về phía hữu. Mười bốn, thân màu hoàng kim, màu đẹp hơn vàng Diêm phù đàn. Mười lăm, ánh sáng từ thân chiếu ra một tượng. Mười sáu, da mỏng mịn trơn chẳng dính bụi, ruồi muỗi chẳng đậu được. Mười bảy, bảy chỗ trên thân: hai lòng bàn chân, hai lòng bàn tay, trên đầu hai vai và giữa cổ. Mười tám, dưới hai nách no đầy. Mười chín, phần thân trên như sư tử. Hai mươi, thân 
/45
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây