Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 7 - Kinh Bát Nhã Ba La Mật

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.

 

Chương 14: KINH MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT - Phần 1 (trang 111-120)

KINH MA-HA
BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 
PHẨM TAM HUỆ 
THỨ BẢY MƯƠI

Ngài Tu Bồ Ðề thưa: Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật thế nào? Sanh Bát nhã ba la mật thế nào? Tu Bát nhã ba la mật thế nào?
Ðức Phật phán dạy:
Nầy Tu Bồ Ðề! Vì sắc tịch diệt, vì sắc không, vì sắc hư dối, vì sắc chẳng cứng chắc nên phải hành Bát nhã ba la mật. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Như lời ngươi hỏi: “sanh Bát nhã ba la mật thế nào?”; Vì như hư không sanh, nên sanh Bát nhã ba la mật. Như lời ngươi hỏi: “Tu Bát nhã ba la mật thế nào?”; vì tu các pháp phá hoại, nên tu Bát nhã ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Hành Bát nhã ba la mật, sanh Bát nhã ba la mật, tu Bát nhã ba la mật phải bao nhiêu thời gian?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Từ lúc mới phát tâm đến lúc mời đạo tràng nên hành, nên sanh, nên tu Bát nhã ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Tâm niệm nào nên hành Bát nhã ba la mật?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Thường chẳng bỏ tâm Nhứt thiết chủng trí, chẳng cho tâm niệm khác xen vào được, đó là hành Bát nhã ba la mật, là sanh Bát nhã ba la mật, là tu Bát nhã ba la mật. Nếu tâm và tâm sở chẳng hiện hành, đó là hành, là sanh, là tu Bát nhã ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát tu Bát nhã ba la mật sẽ được Nhứt thiết chủng trí chăng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Chẳng tu Bát nhã ba la mật được Nhứt thiết chủng trí chăng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Cũng tu, cũng chẳng tu được Nhứt thiết chủng trí chăng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu không như vậy thì làm thế nào sẽ được Nhứt thiết chủng trí?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát được Nhứt thiết chủng trí như như tướng.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là như như tướng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Như thật tế.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là như thật tế?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Như pháp tánh.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là như pháp tánh?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Như ngã tánh, chúng sanh tánh, thọ mạng tánh.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là ngã tánh, chúng sanh tánh, thọ mạng tánh?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Theo ý ngươi thế nào? Pháp ngã, chúng sanh, thọ mạng có thể được chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Chẳng thể được.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu ngã, chúng sanh, thọ mạng chẳng thể được thì sao lại nói là có ngã tánh, chúng sanh tánh, thọ mạng tánh? Nếu trong Bát nhã ba la mật chẳng nói có tất cả pháp thì sẽ được Nhứt thiết chủng trí.
- Bạch đức Thế Tôn! Chỉ Bát nhã ba la mật là chẳng thể nói, còn Thiền na ba la mật đến Ðàn na ba la mật cũng chẳng thể nói chăng?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Bát nhã ba la mật chẳng thể nói, Ðàn na ba la mật đến tất cả pháp hoặc hữu vi, vô vi, hoặc Thanh văn Pháp, Bích chi Phật Pháp, Bồ tát Pháp, Phật Pháp cũng đều chẳng thể nói.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp chẳng thể nói, sao lại nói là Ðịa ngục, là Ngạ quỷ, là Súc sanh, là Nhơn, là Thiên, là Tu đà hoàn, là Tư đà hàm, là A na hàm, là A la hán, là Bích chi Phật, là Bồ tát, là chư Phật?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Theo ý ngươi thế nào? Danh tự của chúnh sanh thật có thể được chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không thể được.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu chúng sanh đã là không thể được thì làm sao nói là có Ðịa ngục nhẫn đến chư Phật? Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ
tát lúc hành Bát nhã ba la mật phải nên học tất cả pháp không nói được.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát lúc hành Bát nhã ba la mật phải học sắc, thọ tưởng hành thức, nhẫn đến phải học Nhứt thiết chủng trí.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát phải học sắc chẳng tăng, chẳng giảm, nhẫn đến phải học Nhứt thiết chủng trí chẳng tăng, chẳng giảm.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là sắc bất tăng, bất giảm học, nhễn đến thế nào là Nhứt thiết chủng trí bất tăng, bất giảm học?
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là bất sanh, bất diệt học?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Vì chẳng khởi, chẳng tác các hành nghiệp, hoặc có hoặc không.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào gọi là chẳng khởi, chẳng tác các hành nghiệp hoặc có hoặc không?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Vì quán các pháp tự tánh Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Phải quán các pháp tự tánh Không thế nào?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Phải quán sắc sắc tướng không. Phải quán thọ tưởng hành thức, tướng không. Phải quán nhã nhãn tướng không. Nhẫn đến phải quán ý thức giới ý thức giới tướng không. Nhẫn đến phải quán vô pháp hữu pháp không vô pháp hữu pháp không tướng không. Phải quán tứ thiền tứ thiền tướng không. Nhẫn đến phải quán diệt thọ tưởng định diệt thọ tưởng định tướng không. Phải quán tứ niệm xứ tứ niệm xứ tướng không. Nhẫn đến phải quán Vô thượng Bồ đề tướng không. Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Bồ tát phải quán các pháp tự tướng không.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu sắc sắc tướng không, nhẫn đến Vô thượng Bồ đề, Vô thượng Bồ đề tướng không, thì đại Bồ tát sao lại phải hành Bát nhã ba la mật?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Chẳng hành, đó gọi là hành Bát nhã ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào chẳng hành mà gọi là hành Bát nhã ba la mật?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Vì Bát nhã ba la mật bất khả đắc nên Bồ tát bất khả đắc, hành cũng bất khả
đắc, vì người hành, pháp hành, chỗ hành đều bất khả đắc vậy. Ðây gọi là đại Bô Tát hành, chẳng hành Bát nhã ba la mật, vì tất cả các hý luận đều bất khả đắc vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu chẳnh hành là đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật, thì Bồ tát mới phát tâm hành Bát nhã ba la mật thế nào?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Từ lúc mới phát tâm trở lại, Bồ tát phải học pháp không vô sở đắc. Vì Bồ tát nầy dùng pháp vô sở đắc mà bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, nhẫn đến dùng pháp vô sở đắc tu Nhứt thiết chủng trí.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào gọi là hữu sở đắc? Thế nào gọi là vô sở đắc?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Những pháp có hai là có sở đắc. Không có hai là không sở đắc.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì có hai là có sở đắc? Những gì không hai là không sở đắc?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Nhãn và sắc là hai, nhẫn đến Vô thượng Bồ đề và Phật là hai. Ðó gọi là hai.
- Bạch đức Thế Tôn! Từ trong hữu sở đắc mà không sở đắc, hay là từ trong vô sở đắc mà không sở đắc?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Chẳng từ trong hữu sở đắc mà không sở đắc, chẳng từ trong vô sở đắc mà không sở đắc. Nầy Tu Bồ Ðề! Hữu sở đắc và vô sở đắc bình đẳng, đây gọi là không sở đắc. Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát ở trong pháp hữu sở đắc và vô sở đắc bình đẳng cần phải học. Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát học Bát nhã ba la mật như vậy thì gọi là người vô sở đắc, người không lầm lỗi.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật mà chẳng hành hữu sở đắc, chẳng hành vô sở đắc thì sao lại từ một bực lên một bực đến được Nhứt thiết chủng trí?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát chẳng ở trong hữu sở đắc để từ một bực lên một bực. Tại sao vậy? Nầy Tu Bồ Ðề! Vô sở đắc là tướng của Bát nhã ba la mật, vô sở đắc là tướng của Vô thượng Bồ đề, vô sở đắc cũng là tướng của người hành Bát nhã ba la mật. Ðại Bồ tát phải hành Bát nhã ba la mật như vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu Bát nhã ba la mật bất khả đắc, Vô thượng Bồ đề bất khả đắc, người hành Bát nhã ba la mật bất khả đắc, thì làm sao chư đại Bồ tát phân biệt các pháp tướng: là sắc,
là thọ tưởng hành thức, nhẫn đến là Vô thượng Bồ đề?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát chẳng thấy có sắc… nhẫn đến chẳng thấy có Vô thượng Bồ đề.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát chẳng thấy có sắc, nhẫn đến chẳng thấy có Vô thượng Bồ đề, làm sao đầy đủ được sáu ba la mật vào trong Bồ tát vị? Vào xong, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh được Nhứt thiết chủng trí? Ðược Nhứt thiết chủng trí xong, chuyển pháp luân làm Phật sự độ chúng sanh thoát sanh tử?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát chẳng vì sắc mà hành Bát nhã ba la mật, nhẫn đến chẳng vì Vô thượng Bồ đề mà hành Bát nhã ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát vì sự gì mà hành Bát nhã ba la mật?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Vì không chỗ làm mà đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật. Tại sao vậy? Vì tất cả pháp không chỗ làm, không chỗ tác, Bát nhã ba la mật cũng không chỗ làm, không chỗ tác, Vô thượng Bồ đề cũng không chỗ làm, không chỗ tác, đại Bồ tát cũng không chỗ làm, không chỗ
tác. Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát phải hành Bát nhã ba la mật không chỗ làm, không chỗ tác.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu các pháp không chỗ làm, không chỗ tác thì chẳng nên phân biệt có ba thừa: Thanh văn thừa, Bích chi Phật thừa, Phật thừa.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Trong các pháp không chỗ làm, không chỗ tác thì không có phân biệt. Trong có chỗ làm, có chỗ tác thì có phân biệt. Tại sao vậy? Vì phàm phu ngu nhơn chẳng nghe Thánh pháp, chấp trước năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Họ chấp trước Ðàn na ba la mật nhẫn đến Vô thượng Bồ đề. Ngu nhơn Nầy quan niệm có sắc và được sắc đó, nhẫn đến có Vô thượng Bồ đề và được Vô thượng Bồ đề đó.
Bồ tát nghĩ rằng: “Tôi sẽ được Vô thượng Bồ đề, tôi sẽ độ chúng sanh thoát sanh tử”. Nầy Tu Bồ Ðề! Ta dùng ngũ nhãn quan sát còn chẳng thấy có sắc nhẫn đến Vô thượng Bồ đề, huống là ngu nhơn không có con mắt mà muốn được Vô thượng Bồ đề độ chúng sanh thoát sanh tử.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu Đức Phật dùng nhũ nhãn quan sát chẳng thấy kẻ được độ trong những chúng sanh bị sanh tử, tại sao ngày nay đức Thế
/45
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây