Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.
Bấy giờ Ngài Tu Bồ Ðề suy nghĩ: “Những gì là đại Bồ tát đạo? Bồ tát an trụ đạo ấy có thể làm được đại trang nghiêm như vậy”. Ðức Phật biết tâm niệm của Ngài Tu Bồ Ðề liền dạy rằng: Ý kiến bạn đọc
BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT
THỨ TÁM MƯƠI HAI
Nầy Tu Bồ Ðề! Sáu ba la mật là đại Bồ tát đạo, ba mươi bảy pháp trợ đạo là đại Bồ tát đạo, tám bội xả, chín định thứ đệ là đại Bồ tát đạo, mười trí lực… nhẫn đến mười tám pháp bất cộng là đại Bồ tát đạo, tất cả pháp cũng là đại Bồ tát đạo.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp Không, sao lại nói Bồ tát học tất cả pháp. Phải chăng đức Thế Tôn ở trong không hý luận mà làm hý luận ư! Những là cái nầy cái kia, là pháp thế gian, là pháp xuất thế, là hữu lậu, là vô lậu, là hữu vi, là vô vi, là pháp phàm phu, là pháp A la hán, là pháp Bích chi Phật, là pháp Phật.
- Ðúng như vậy. Nầy Tu Bồ Ðề! Tất cả pháp thật rỗng không. Nếu tất cả pháp chẳng rỗng không thì đại Bồ tát chẳng thể được Vô thượng Bồ đề; do vì tất cả pháp thật rỗng Không nên đại Bồ tát có thể được Vô thượng Bồ đề.
Nầy Tu Bồ Ðề! Như lời ông nói, nếu tất cả pháp rỗng không, phải chăng Đức Phật ở trong không hý luận mà làm hý luận, những là: phân biệt đây kia, là pháp thế gian, là pháp xuất thế gian… nhẫn đến là Phật pháp. Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu chúng sanh thế gian biết tất cả pháp rỗng không, thì đại Bồ tát chẳng học tất cả pháp và
Nầy Tu Bồ Ðề! Nơi đạo Bồ tát nầy, từ ban sơ đến nay phải tư duy như vầy: “Trong tất cả pháp, không có được tánh nhứt định, chỉ từ nơi hòa hiệp nhơn duyên mà sanh khởi, nên có danh tự là các pháp, tôi phải tư duy các pháp không có tánh thật có thể nắm lấy được, hoặc là sáu ba la mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo, hoặc là quả Tu đà hoàn nhẫn đến quả A la hán, đạo Bích chi Phật, Vô thượng Bồ đề. Tại sao? Vì tất cả pháp, tất cả pháp tánh rỗng không, Không chẳng nắm lấy Không. Không còn là chẳng có được, huống là trong Không mà có nắm lấy!”.
Nầy Tu Bồ Ðề! Tư duy như vậy, Bồ tát chẳng nắm lấy tất cả pháp mà học tất cả pháp. Bồ tát an trụ trong sự học ấy quan sát tâm hành của chúng sanh: tâm chúng sanh nầy hành tại chỗ nào? Bồ tát biết tâm chúng sanh hành trong hư vọng chẳng thật, bèn nghĩ rằng: “Chúng sanh ấy nắm lấy pháp hư vọng chẳng thật, rất dễ độ”.
Bấy giờ đại Bồ tát an trụ trong Bát nhã ba la mật, vì dùng sức phương tiện nên giáo hóa chúng
Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bồ tát đạo như vậy, đại Bồ tát không chỗ an trụ. Bồ tát ấy vì dùng pháp chẳng an trụ, nên hành Bố thí ba la mật cũng chẳng an trụ trong ấy. Hành Trì giới ba la mật cũng chẳng an trụ trong ấy. Hành Nhẫn nhục ba la mật cũng chẳng an trụ trong ấy. Hành Tinh tấn ba la mật cũng chẳng an trụ trong ấy. Hành Thiền na ba la mật cũng chẳng an trụ trong ấy. Hành Bát nhã ba la mật cũng chẳng an trụ trong ấy. Hành bốn thiền, bốn tâm, bốn định, tám bội xả, chín định thứ đệ cũng chẳng an trụ trong ấy. Tại sao? Vì Sơ thiền v.v…, Sơ thiền v.v.. tánh rỗng không, người hành thiền v.v… cũng rỗng không, pháp được dùng cũng rỗng không. Ðược quả Tu
- Bạch đức Thế Tôn! Duyên cớ gì mà chẳng an trụ trong ấy?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Do hai nhơn duyên mà chẳng an trụ trong ấy:
Một là các đạo quả tánh rỗng không, không có chỗ an trụ, cũng không có pháp được dùng, cũng không có người an trụ. Hai là chẳng lấy chút ít làm đủ. Bồ tát nghĩ rằng: “Tôi chẳng nên chẳng được quả Tu đà hoàn, tôi chắc chắn sẽ được quả Tu đà hoàn. Chỉ chẳng nên an trụ trong quả ấy. Nhẫn đến Vô thượng Bồ đề chẳng nên an trụ trong ấy. Tại sao? Vì từ lúc ban sơ phát tâm trở lại, tôi không còn có tâm nào khác, chỉ Nhứt tâm hướng về Vô thượng Bồ đề”. Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát ấy an trụ nhứt tâm như vậy có thể sanh Bồ Ðề đạo.
- Bạch đức Thế Tôn! nếu tất cả pháp bất sanh thì thế nào đại Bồ tát hay sanh Bồ đề đạo?
- Ðúng như vậy. Nầy Tu Bồ Ðề! Tất cả pháp vô sanh. Vì sao vô sanh? Vì không chỗ làm, không chỗ khởi nên tất cả pháp bất sanh.
- Bạch đức Thế Tôn! Có Phật hay không có Phật, các pháp pháp tướng thường trụ ư?
- Bạch đức Thế Tôn! Dùng đạo sanh được Bồ đề chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Dùng đạo bất sanh được Bồ đề chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Dùng đạo bất sanh, chẳng phải bất sanh được Bồ đề chăng?
- Không.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào sẽ được Bồ Ðề?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Chẳng phải dùng đạo được Bồ đề, cũng chẳng dùng phi đạo được Bồ đề. Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ đề tức là đạo, đạo tức là Bồ đề.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu Bồ đề tức là đạo và đạo tức là Bồ đề, nay đây lúc Bồ tát chưa thành Phật lẽ ra phải được Vô thượng Bồ đề. Sao lại nói chư Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Chánh Giác có ba mươi hai tướng, tám mươi tùy
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ý ông nghĩ sao? Ðức Phật có được Bồ đề chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Ðức Phật không có được Bồ đề. Tại sao? Vì Phật tức là Bồ đề, Bồ đề tức là Phật.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Như lời hỏi của Tu Bồ Ðề, lúc làm Bồ tát cũng lẽ ra được Bồ đề. Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát ấy đầy đủ sáu ba la mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo, đầy đủ mười trí lực, bốn vô úy, bốn trí vô ngại, mười tám pháp bất cộng, đầy đủ an trụ như kim cang tam muội, dùng một niệm tương ứng huệ được Vô thượng Bồ đề, bấy giờ gọi là Phật, ở trong tất cả pháp được tự tại.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ tát tịnh Phật quốc độ?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Có Bồ tát từ ban sơ phát tâm trở lại tự trừ nghiệp thô nơi thân, trừ nghiệp thô nơi khẩu, trừ nghiệp thô nơi ý, cũng làm sạch ba nghiệp thô của người khác.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là nghiệp thô nơi thân, nghiệp thô nơi khẩu, nghiệp thô nơi ý?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Những nghiệp bất thiện như sát sanh nhẫn đến tà kiến gọi là ba nghiệp thô của
Lại nầy Tu Bồ Ðế! Nếu Bồ tát xa rời hạnh tứ niệm xứ thì gọi là Bồ tát nghiệp thô, xa rời tứ chánh cần nhẫn đến bát Thánh đạo phần, tám giải thoát môn cũng gọi là Bồ tát nghiệp thô. Lại nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát tham quả Tu đà hoàn nhẫn đến tham quả A la hán, đạo Bích chi Phật thì gọi là Bồ tát nghiệp thô.
Lại nầy Tu Bồ Ðề! nếu Bồ tát có tướng sắc, thọ, tưởng, hành thức; có tướng nhãn, nhĩ, tỉ, thật, thân, ý; có tướng sắc, thanh, hương, vi, xúc, pháp; tướng nam, tướng nữ; tướng cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc; có tướng pháp thiện, pháp bất thiện, hữu vi, vô vi thì gọi là Bồ tát nghiệp thô.
Ðại Bồ tát đều xa rời những tướng nghiệp thô như vậy, tự mình bố thí, cũng dạy người khác bố thí: cần thức ăn cho thức ăn, cần y phục cho y phục… nhẫn đến cần các thứ vật dùng để sống đều cấp cho tất cả. Cũng dạy người khác hành bố thí như vậy. Ðem phước đức ấy cùng chung với tất cả chúng sanh hồi hướng tịnh Phật quốc độ. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ cũng như vậy. Ðại Bồ tát ấy hoặc đem trân bửu
Lại nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát đem kỹ nhạc trời trỗi trước Phật và tháp Phật, phát nguyện rằng: “Do nhơn duyên căn lành nầy làm cho trong cõi nước tôi thường nghe nhạc trời”.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát đem hương trời đầy cả cõi Ðại Thiên cúng dường chư Phật và tháp Phật, phát nguyện rằng: “Do nhơn duyên căn lành nầy làm cho cõi nước tôi thường có hương trời”.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát dùng trăm thức uống ăn cúng dường Phật và Tăng, phát nguyện rằng: “Do nhơn duyên căn lành nầy làm cho chúng sanh trong cõi nước tôi đều được trăm thức uống ăn”.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát dùng hương trời mịn trơn cúng dường Phật và Tăng, phát nguyện rằng: “Do nhơn duyên căn lành nầy làm cho chúng sanh trong cõi nước tôi, tất cả đều thọ hương trời mịn trơn”.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát dùng tùy ý ngũ dục cúng dường Phật và Tăng cùng tất cả chúng sanh, phát nguyện rằng: “Do nhơn duyên
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát nguyện rằng: “Tôi sẽ tự mình nhập Sơ thiền, cũng dạy tất cả chúng sanh nhập Sơ thiền, với Nhị thiền nhẫn đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng như vậy”. Ðại Bồ tát ấy cũng nguyện: “Lúc tôi được Vô thượng Bồ đề, tôi sẽ làm cho chúng sanh chẳng xa rời tứ thiền nhẫn đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo”.
Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát có thể tịnh Phật quốc độ; trải qua thời gian như thế hành Bồ tát đạo, đầy đủ các nguyện; Bồ tát ấy tự thành tựu tất cả pháp lành, cũng cho tất cả chúng sanh thành tựu pháp lành. Bồ tát ấy tự thọ thân hình đoan chánh, những chúng sanh được hóa độ cũng đoan chánh. Tại sao? Vì nhơn duyên phước đức sâu dày vậy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát nên tịnh Phật quốc độ như vậy. Trong quốc độ ấy nhẫn đến không có danh từ ba ác đạo, cũng không có danh từ tà kiến,
Trong quốc độ ấy, gió thổi cây bảy báu, tùy theo chỗ đáng được độ mà vang ra âm thanh, như là: âm thanh Không, vô tướng, vô tác; Chư pháp thật tướng, có Phật hay không có Phật, tất cả pháp, tất cả pháp tướng đều không, trong rỗng không ấy không có tướng, trong không có tướng thì không có tác, phát ra pháp âm như vậy. Hoặc ngày, hoặc đêm, hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc đi thường nghe pháp âm ấy.
Lúc Bồ tát ấy được Vô thượng Bồ đề, chư Phật trong mười phương quốc độ đều khen ngợi. Chúng sanh nghe danh hiệu chư Phật ấy chắc chắn sẽ đến Vô thượng Bồ đề. Lúc Bồ tát được Vô thượng Bồ đề rồi thuyết pháp. Chúng sanh nghe pháp, không có ai chẳng tin mà sanh nghi nói rằng: “Đúng pháp, chẳng đúng pháp”. Tại sao? Vì trong các pháp thật tướng đều đúng pháp, không có chẳng đúng pháp. Có những kẻ phước mỏng, ở nơi chư Phật và chư đệ tử Phật chẳng gieo căn lành, chẳng theo thiện tri thức, chìm trong ngã kiến, nhẫn đến chìm trong tất cả thứ
Lúc chư Phật được Vô thượng Bồ đề thấy những chúng sanh ấy qua lại năm loài, bèn làm cho họ rời lìa tà tụ, an lập họ trong chánh định tụ. Chúng sanh không còn tâm tạp uế: hoặc là pháp thế gian, hoặc là pháp xuất thế; hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu; hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Nhẫn đến làm cho chúng sanh trong cõi nước ấy, chắc chắn đến Vô thượng Bồ đề.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðây là đại Bồ tát tịnh Phật quốc độ vậy.