Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 7 - Kinh Bát Nhã Ba La Mật

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 404.

 

Chương 30: Phẩm Tứ Nhiếp - Thứ Bảy Mươi Tám - Phần 3 (trang 251-264)

hình ngay thẳng. Hai mươi mốt, vai tròn đẹp. Hai mươi hai, có bốn mươi cái răng. Hai mươi ba, răng trắng bằng kín và chân rất sâu. Hai mươi bốn, bốn cái răng nanh rất trắng hơn cả và lớn. Hai mươi lăm, hai má vuông bầu như má sư tử. Hai mươi sáu, trong yết hầu có hai chỗ rịn nước tân dịch, vị ngọt ngon trên hết các vị ngọt ngon nhứt. Hai mươi bảy, lưỡi lớn mỏng mềm có thể che trùm đến tóc và tai. Hai mươi tám, âm thanh trong trẻo, vang xa như tiếng chim Ca lăng tần già. Hai mươi chín, màu mắt sáng như vàng ròng. Ba mươi, lông nheo như của Ngưu vương. Ba mươi mốt, giữa chặng hai mày có lông trắng mềm nhuyễn như bông. Ba mươi hai, xương thịt trên đỉnh đầu vun thành búi.
Thân Đức Phật thành tựu đủ ba mươi hai tướng nầy, ánh sáng chiếu khắp cõi Đại thiên. Nếu lúc muốn chiếu rộng thời chiếu khắp vô lượng vô số thế giới mười phương. Vì chúng sanh nên đức Phật thọ thân ánh sáng một trượng. Nếu phóng vô lượng quang thì không có thời tiết, năm tháng, ngày giờ. Âm thanh của đức Phật vang khắp cõi Ðại thiên. Nếu lúc muốn tiếng lớn thì vang khắp vô lượng vô số thế giới mười phương. Tùy theo số chúng sanh nhiều ít, âm thanh của đức Phật đều khắp đến họ cả.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là tám mươi tùy hình hảo?
Một, đỉnh đầu không thể thấy đến. Hai, mũi thẳng cao đẹp và lỗ kín. Ba, mày như vành trăng mới sanh và màu ngọc lưu ly biếc. Bốn, vành tai lớn dầy. Năm, thân vóc vững chắc như Na La Diên. Sáu đầu xương móc nhau như móc xích. Bảy, lúc xoay mình lại dạng như Tượng vương. Tám, lúc đi bàn chân cách đất bốn tấc mà chỉ chân lại hiện trên đất. Chín, móng tay như màu đồng đỏ, mỏng mà láng bóng. Mười, xương gối cứng chắc tròn đẹp. Mười một, toàn thân sạch sẽ. Mười hai, thân mềm dịu. Mười ba, thân chẳng cong. Mười bốn, ngón tay dài vót tròn. Mười lăm, chỉ tay trang nghiêm. Mười sáu, mạch máu ẩn sâu. Mười bảy, mắt cá chẳng lộ. Mười tám, thân nhuần láng. Mười chín, thân tự giữ ngay, đi thẳng uốn lượn. Hai mươi, thân đầy đủ. Hai mươi mốt, biết đầy đủ. Hai mươi hai, dung nghi đầy đủ. Hai mươi ba, luôn an ổn không gì làm loạn động được. Hai mươi bốn, oai chấn tất cả. Hai mươi lăm, tất cả đều thích nhìn. Hai mươi sáu, khuôn mặt chẳng lớn dài. Hai mươi bảy, chánh dung mạo chẳng đổi sắc. Hai mươi tám, khuôn mặt đầy đủ. Hai mươi chín, môi đỏ màu như màu trái Tần bà. Ba mươi, âm thanh vẳng sâu. Ba mươi mốt, lỗ
rún sâu tròn đẹp. Ba mươi hai, lông xoắn về phía hữu. Ba mươi ba, tay chân đều bằng đầy. Ba mươi bốn, tay chân như ý. Ba mươi lăm, chỉ tay thẳng sáng. Ba mươi sáu, chỉ tay dài. Ba mươi bảy, chỉ tay chẳng dứt. Ba mươi tám, tất cả chúng sanh ác tâm khi nhìn thấy đều hòa vui. Ba mươi chín, gương mặt rộng rất đẹp. Bốn mươi, gương mặt đầy sạch như mặt trăng. Bốn mươi mốt, tùy theo ý chúng sanh mà hòa vui cùng nói chuyện. Bốn mươi hai, chân lông tỏa hơi thơm. Bốn mươi ba, miệng ra hơi thơm vô thượng. Bốn mươi bốn, nghi dung như sư tử. Bốn mươi lăm, đi đứng như Tượng vương. Bốn mươi sáu, cách đi như Nga vương. Bốn mươi bảy, đầu như trái Ma đà na. Bốn mươi tám, đầy đủ tất cả âm thanh. Bốn mươi chín, răng bén. Năm mươi, lưỡi màu đỏ. Năm mươi mốt, lưỡi mỏng. Năm mươi hai, lông màu hồng. Năm mươi ba, lông sạch sẽ. năm mươi bốn, mắt rộng dài. Năm mươi lăm, cửa lỗ đủ tướng. Năm mươi sáu, tay chân trắng hồng như màu hoa sen. Năm mươi bảy, rún chẳng lồi. Năm mươi tám, bụng chẳng lộ. Năm mươi chín, bụng thon nhỏ. Sáu mươi, thân chẳng nghiêng động. Sáu mươi mốt, thân vững chãi. Sáu mươi hai, thân phần lớn. Sáu mươi ba, thân cao. Sáu mươi bốn, tay chân mịn láng dịu dàng sáng sạch.
Sáu mươi lăm, từ nơi thân ánh sáng chiếu ra một trượng. Sáu mươi sáu, ánh sáng chiếu thân mà đi. Sáu mươi bảy, bình đẳng xem chúng sanh. Sáu mươi tám, chẳng khinh chúng sanh. Sáu mươi chín, tùy theo chúng sanh, âm thanh chẳng lớn chẳng nhỏ. Bảy mươi, thuyết pháp chẳng thấp. Bảy mươi mốt, tùy theo ngữ ngôn của chúng sanh mà thuyết pháp cho họ. Bảy mươi hai, phát một âm đáp đúng các âm. Bảy mươi ba, thuận nhơn duyên mà thứ đệ thuyết pháp. Bảy mươi bốn, tất cả chúng sanh không ai có thể thấy hết tất cả tướng trên thân đức Phật. Bảy mươi lăm, người xem không nhàm chán. Bảy mươi sáu, tóc dài đẹp. Bảy mươi bay, tóc chẳng rối. Bảy mươi tám, tóc xoắn đẹp. Bảy mươi chín, tóc màu như thanh châu. Tám mươi, tay chân có tướng phước đức. Nầy Tu Bồ Ðề! Thân của đức Phật thành tựu tám mươi tùy hình hảo như vậy.
Lại nữa, nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát giáo hóa chúng sanh rằng: Nầy thiện nam tử! Phải khéo học phân biệt các chữ, cũng khéo biết một chữ nhẫn đến bốn mươi hai chữ. Tất cả ngôn ngữ đều nhập Tự môn đầu tiên. Tất cả ngữ ngôn cũng nhập Tự môn thứ hai… nhẫn đến Tự mốn thứ bốn mươi hai, tất cả ngữ ngôn đều nhập trong đó. Một chữ đều nhập trong
bốn mươi hai chữ. Bốn mươi hai chữ cũng nhập trong một chữ. Chúng sanh phải khéo học bốn mươi hai chữ ấy. Khéo học bốn mươi hai chữ rồi có thể khéo giảng thuyết Tự pháp. Khéo giảng nói Tự pháp rồi khéo giảng nói Vô tự pháp.
Nầy Tu Bồ Ðề! Như đức Phật khéo biết pháp, khéo biết Tự, khéo biết Vô tự. Vì Vô tự pháp mà nói Tự pháp. Tại sao? Vì vượt qua tất cả danh tự pháp nên gọi là Phật pháp. Như vậy, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát dùng hai thứ bố thí nhiếp lấy chúng sanh, đó là tài thí và pháp thí. Ðây là việc hi hữu khó theo kịp của Bồ tát.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là đại Bồ tát ái ngữ nhiếp lấy chúng sanh? Ðại Bồ tát dùng sáu ba la mật, vì chúng sanh thuyết pháp, bảo rằng: Các ngươi thực hành sáu ba la mật nhiếp lấy tất cả thiện pháp.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là đại Bồ tát lợi hành nhiếp lấy chúng sanh? Ðại Bồ tát luôn luôn giáo hóa chúng sanh, bảo họ thực hành sáu ba la mật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là đại Bồ tát đồng sự nhiếp lấy chúng sanh? Do dùng sức sáu thứ thần thông, đại Bồ tát biến hóa nhiều cách vào trong sáu loài cùng với chúng sanh đồng sự, rồi dùng bốn pháp nhiếp mà nhiếp lấy họ.
Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh rốt ráo bất khả đắc, pháp cũng bất khả đắc, pháp tánh cũng bất khả đắc, vì rốt ráo Không, vô thỉ Không vậy. Ðại Bồ tát thế nào lúc hành Bát nhã ba la mật, hành Thiền ba la mật, hành Tấn ba la mật, hành Nhẫn ba la mật, hành Giới ba la mật, hành Thí ba la mật; lại hành tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám không; lại hành Không, vô tướng và vô tác tam muội, bát bội xả, cửu thứ đệ định; lại hành Phật thập lực, tứ vô úy, bốn trí vô ngại, mười tám pháp bất cộng, ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo? Thế nào lại an trụ báo đắc năm món thần thông mà vì chúng sanh thuyết pháp; chúng sanh thật bất khả đắc vì chúng sanh bất khả đắc vậy. Sắc bất khả đắc, nhẫn đến thức bất khả đắc, vì năm ấm bất khả đắc vậy. Sáu ba la mật, nhẫn đến tám mươi tùy hình hảo đều bất khả đắc. Trong những bất khả đắc ấy, không có chúng sanh, không có sắc, nhẫn đến không có tám mươi tùy hình hảo.
Bạch đức Thế Tôn! Thế nào đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật, vì chúng sanh thuyết pháp? Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát lúc hành Bát nhã 
ba la mật, Bồ tát còn bất khả đắc, huống là có Bồ tát pháp!
Ðức Phật bảo ngài Tu Bồ Ðề:
Ðúng như vậy. Ðúng như lời ông nói. Vì chúng sanh bất khả đắc nên biết là nội Không, ngoại Không, nội ngoại Không, Không Không, đại Không, đệ Nhứt nghĩa Không, hữu vi Không, vô vi Không, tất cánh Không, vô thỉ Không, tán Không, Chư pháp Không, tánh Không, tướng Không, bất khả đắc Không, vô pháp Không, hữu pháp Không, vô pháp hữu pháp Không.
Vì chúng sanh bất khả đắc nên biết là ngũ ấm Không, thập nhị nhập Không, thập bát giới Không, thập nhị nhơn duyên Không, tứ đế Không; ngã, chúng sanh thọ mạng đều Không; sanh giả, dưỡng giả, dục giả, chúng số giả đều Không; nhơn giả, tác giả, sử tác giả đều Không; khởi giả, sử khởi giả, thọ giả, sử thọ giả đều Không; tri giả, kiến giả đều Không.
Vì chúng sanh bất khả đắc nên biết tứ thiền Không, tứ vô lượng tâm Không, tứ vô sắc định Không. Nên biết ba mươi bảy pháp trợ đạo Không. Không, Vô tướng, Vô tác đều Không, bát bội xả Không, cửu thứ đệ định Không.
Vì chúng sanh bất khả đắc nên biết Phật thập lực không, tứ vô úy Không, bốn trí vô ngại Không, mười tám pháp bất cộng Không. Nên biết quả Tu đà hoàn Không, quả Tư đà hàm Không, quả A na hàm Không, quả A la hán Không, đạo Bích chi Phật không. Nên biết Bồ tát địa không, Vô thượng Bồ đề không.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát thấy tất cả pháp Không như vậy, vì chúng sanh thuyết pháp chẳng mất các tướng Không. Bồ tát nầy lúc quán như vậy biết rõ tất cả pháp vô ngại. Biết tất cả pháp vô ngại rồi chẳng phá hoại các pháp tướng, chẳng thấy khác, chẳng phân biệt, chỉ vì chúng sanh, thuyết pháp đúng như thật.
Ví như hóa nhơn của đức Phật biến hóa ra, hóa nhơn nầy lại hóa ra, làm vô lượng ngàn trăm ức người: có người dạy bố thí, có người dạy trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; có người dạy tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định. Nầy Tu Bồ Ðề! Ý ông nghĩ sao? Hóa nhơn của đức Phật biến hóa ra đó có phân biệt, phá hoại các pháp chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Hóa nhơn đó không có tâm, không có tâm sở, đâu có phân biệt, phá hoại các pháp.  
- Nầy Tu Bồ Ðề! Vì thế nên phải biết đại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật vì chúng sanh mà thuyết pháp đúng chỗ đáng nói, đem chúng sanh ra khỏi chỗ điên đảo, làm cho chúng sanh được đến chỗ an trụ, vì pháp chẳng trói, chẳng mở vậy. Tại sao vậy?
Nầy Tu Bồ Ðề! Sắc chẳng trói chẳng mở. Thọ tưởng hành thức chẳng trói chẳng mở. Sắc không trói không mở chẳng phải sắc. Thọ tưởng hành thức không trói, không mở chẳng phải thọ tưởng hành thức. Tại sao? Vì sắc rốt ráo thanh tịnh. Vì thọ tưởng hành thức… nhẫn đến tất cả pháp hoặc hữu vi hoặc vô vi cũng đều rốt ráo thanh tịnh.
Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát vì chúng sanh thuyết pháp cũng chẳng có được chúng sanh và tất cả pháp. Vì tất cả pháp bất khả đắc vậy. Bồ tát vì chẳng an trụ nơi pháp nên an trụ trong các pháp tướng, đó là sắc Không nhẫn đến pháp hữu vi, pháp vô vi Không. Tại sao? Vì sắc nhẫn đến pháp hữu vi, pháp vô vi tự tánh bất khả đắc nên không có chỗ an trụ. Pháp vô sở hữu chẳng an trụ pháp vô sở hữu. Pháp tự tánh chẳng an trụ pháp tự tánh. Pháp tha tánh chẳng an trụ pháp tha tánh. Tại sao? Vì tất cả pháp ấy đều bất khả đắc. Pháp bất khả đắc sẽ an trụ chỗ nào?
Như vậy, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát hành Bát nhã ba la mật, dùng các pháp Không ấy có thể thuyết pháp như vậy. Hành Bát nhã ba la mật như vậy, ở nơi chư Phật và hàng Thanh văn, Bích chi Phật không có lỗi. Tại sao? Chư Phật, chư Bồ tát và Bích chi Phật cùng A la hán được pháp nầy rồi vì chúng sanh thuyết pháp cũng chẳng chuyển các pháp tướng. Vì như, pháp tánh, thật tế chẳng chuyển được vậy. Tại sao? Vì các pháp không có tánh.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu pháp tánh, như, thật tế chẳng chuyển thì sắc cùng pháp tánh có khác chăng? Sắc cùng với như và thật tế có khác chăng? Thọ tưởng hành thức… nhẫn đến pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu, pháp vô lậu có khác chăng?
- Không. Nầy Tu Bồ Ðề! Sắc chẳng khác pháp tánh, chẳng khác như, chẳng khác thật tế. Thọ tưởng hành thức… nhẫn đến hữu lậu, vô lậu cũng chẳng khác.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu sắc chẳng khác pháp tánh, chẳng khác Như, chẳng khác thật tế. Thọ, tưởng, hành, thức… nhẫn đến hữu lậu, vô lậu chẳng khác thì làm sao phân biệt pháp ác có ác báo là: Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh; pháp
lành có báo lành là Người và Trời? Thế nào phân biệt pháp ác, thiện có báo ác, thiện; pháp không ác, không thiện không có báo ác,  không thiện là quả Tu đà hoàn… nhẫn đến Vô thượng Bồ đề?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Vì là thế đế nên phân biệt nói có quả báo, chẳng phải trong đệ Nhứt nghĩa đế. Trong đệ Nhứt nghĩa đế chẳng thể nói nhơn duyên, quả báo. Tại sao? Ðệ Nhứt nghĩa đế thật không có tướng, không có phân biệt, cũng không có ngôn thuyết. Dó là vì sắc… nhẫn đến pháp hữu lậu vô lậu bất sanh bất diệt, bất cấu, bất tịnh, rốt ráo Không, vô thỉ Không vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu do nơi thế đế mà phân biệt nói có quả báo chớ chẳng phải đệ Nhứt nghĩa đế, thì tất cả người phàm lẽ ra có quả Tu đà hoàn nhẫn đến Vô thượng Bồ đề?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ý của ông nghĩ thế nào? Người phàm có biết là thế đế, có biết là đệ Nhứt nghĩa đế chăng? Nếu biết thì người phàm ấy lẽ ra đã là quả Tu đà hoàn nhẫn đến Vô thượng Bồ đề.
Nầy Tu Bồ Ðề! Bởi người phàm thật chẳng biết thế đế, chẳng biết đệ Nhứt nghĩa đế, chẳng biết đạo, chẳng biết phân biệt đạo quả thì làm sao có được các quả! Nầy Tu Bồ Ðề! Thánh nhơn biết
thế đế, biết đệ Nhứt nghĩa đế, có đạo, có tu đạo, thế đế Thánh nhơn sai biệt có các quả.
- Bạch đức Thế Tôn! Tu đạo được quả chăng?
- Không. Nầy Tu Bồ Ðề! Tu đạo chẳng được quả, chẳng tu đọa cũng chẵng được quả, cũng chẳng rời lìa đạo được quả, cũng chẳng an trụ trong đạo được quả. Như vậy, Nầy Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ tát vì chúng sanh mà phân biệt các quả, cũng chẳng phân biệt là tánh hữu vi, tánh vô vi.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu chẳng phân biệt tánh hữu vi, tánh vô vi mà được các quả, tại sao đức Phật lại nói vì kiết sử tam giới hết nên gọi là quả Tu đà hoàn? Vì tham sân si mỏng nên gọi là Tư đà hàm? Vì tham, sân, si mạn nghi cõi Dục hết nên gọi là quả A na hàm? Vì tham, sân, si, mạn, nghi cõi Sắc, Vô Sắc hết nên gọi là quả A la hán, bao nhiêu pháp tập nhơn đều diệt tan thì gọi là Bích chi Phật đạo? Vì tất cả tập chủng phiền não dứt hẳn nên gọi là Vô thượng Bồ đề? Bạch đức Thế Tôn! Tôi phải biết phân biệt tánh hữu vi, tánh vô vi thế nào để được các quả?
- Nầy Tu Bồ Ðề! Ông cho quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, đạo Bích chi Phật, Vô thượng Bồ đề là hữu vi? Là vô vi? 
- Bạch đức Thế Tôn! Ðều là vô vi.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Trong pháp vô vi có phân biệt chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không.
- Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào thông đạt tất cả pháp, hoặc hữu vi hoặc vô vi là nhứt tướng, đó là vô tướng, thì có phân biệt là hữu vi hay vô vi chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không.
- Như vậy, nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát vì chúng sanh thuyết pháp chẳng phân biệt các pháp. Ðó là vì nội Không nhẫn đến vì vô pháp hữu pháp Không vậy. Bồ tát ấy tự mình được pháp không chỗ chấp trước rồi cũng dạy người khác pháp không chỗ chấp trước: Hoặc là sáu ba la mật, hoặc là tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, hoặc là ba mươi bảy pháp trợ đạo nhẫn đến Nhứt thiết chủng trí. Vì Bồ tát nầy tự mình chẳng chấp trước, nên cũng dạy người khác được chẳng chấp trước. Vì không chỗ chấp trước nên không chỗ ngại.
Ví như hóa nhơn của đức Phật biến hóa ra, bố thí cũng chẳng thọ báo bố thí, chỉ vì độ chúng sanh. Nhẫn đến thành Nhứt thiết chủng trí chẳng thọ báo Nhứt thiết chủng trí. Cũng vậy, đại Bồ tát hành sáu ba la mật nhẫn đến hành tất cả pháp:
hoặc hữu lậu, vô lậu; hoặc hữu vi, vô vi… đại Bồ tát chẳng trụ cũng chẳng thọ báo, chỉ vì độ chúng sanh. Tại sao? Vì đại Bồ tát ấy khéo thông đạt tất cả pháp tướng vậy.
/45
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây