Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 4

Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 4

Tác giả: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Dịch giả: Thích Phước Sơn. Hiệu đính Hán Văn: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 470.

Chương 139: Quyển Thứ Ba Mươi Bảy: Nói Rõ Phần Còn Lại Của 19 Pháp Tăng Tàn. 16. Giới: Nổi Giận Bỏ Giới (Trang 302 - 306)

khuyên can ở chỗ nhiều người cũng như vậy. Cuối cùng, khuyên can ở giữa Ni chúng ba lần. Nếu sau ba lần khuyên can mà không bỏ thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói.
Nếu Tỳ-kheo-ni được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, thì cứ mỗi lần khuyên can phạm một tội Việt-tỳ-ni. Khi khuyên can ở chỗ nhiều người, thì mỗi lần khuyên can cũng phạm một tội Việt-tỳ-ni. Khi khuyên ở giữa Ni chúng thì lần thứ nhất bắt đầu khuyên can phạm tội Việt-tỳ-ni ; khuyên can xong, phạm tội Thâu-lan-giá; lần thứ hai bắt đầu khuyên can phạm tội Việt-tỳ-ni , khuyên can xong, phạm tội Thâu-lan-giá; lần thứ ba bắt đầu khuyên can phạm tội Thâu-lan-giá, khuyên can xong phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Tội Tăng-già-bà-thi-sa được hình thành sau khi khuyên can ở chỗ vắng, ở chỗ nhiều người và ở giữa Ni chúng, gồm tất cả các tội Việt-tỳ-ni , Thâu-lan-giá hợp thành một tội (523c) Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu giữa chừng mà đình chỉ thì tùy theo sự đình chỉ ở chỗ nào trị tội ở khoản đó. Thế nên nói (như trên).
16- GIỚI: NỔI GIẬN BỎ GIỚI.
Khi Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, dưới cây Ni-câu-luật, ở Ca-duy-la-vệ, lúc ấy hai mẹ con của người họ Thích đều xuất gia. Người mẹ xuất gia trong hàng ngũ ngoại đạo nói với con gái:
- Nay mẹ con ta vì sao sống mà xa lìa nhau? Con nên đến đây sống với ta.
- Con không thể vô cớ mà đến đây, phải đợi có nguyên nhân gì mới đến được.
Thế rồi, cô ta trở về tỏ ra giận dữ gây lộn với Tỳ-kheo-ni khác, nói: "Nay tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Ni chúng, bỏ thuyết giới, bỏ sống chung, ăn chung, bỏ kinh
luận. Tôi không phải là Tỳ-kheo-ni, không phải là dòng họ Thích. Trong hàng ngũ ngoại đạo cũng có pháp thù thắng, có chỗ tu phạm hạnh. Tôi làm Sa-môn Ni theo dòng họ Thích để làm gì? Tôi sẽ đến chỗ ngoại đạo tu phạm hạnh".
Các Tỳ-kheo-ni bèn khuyên can Tỳ-kheo-ni ấy rằng: "Này Thánh giả, chớ có bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Ni chúng, chớ bỏ dòng họ Thích. Bỏ Phật là điều không tốt, thậm chí bỏ dòng họ Thích cũng là điều không tốt". Họ khuyên can lần thứ nhất, cô không bỏ, khuyên can lần thứ hai cho đến lần thứ ba, cô cũng không bỏ.
Các Tỳ-kheo-ni bèn nói với Đại Ái Đạo. Đại Ái Đạo liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Trước hết ngươi hãy đến chỗ vắng khuyên can ba lần, rồi đến chỗ nhiều người khuyên can ba lần, đến giữa Ni chúng khuyên can ba lần cho bỏ việc đó. Khi khuyên can ở chỗ vắng nên hỏi: "Có thật cô nổi giận nói rằng tôi bỏ giới, bỏ Phật, thậm chí... nói: "Làm Sa-môn Ni dòng họ Thích để làm gì? Tôi sẽ đến chỗ tối thắng khác để tu phạm hạnh", đúng thế không?" Nếu đáp: "Có thật như vậy", thì nên khuyên can: "Cô chớ có bỏ giới, bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Ni chung, thậm chí bỏ Sa-môn Ni dòng họ Thích. Vì bỏ Phật là điều không tốt, bỏ Sa-môn Ni dòng họ Thích cũng là điều không tốt. Nay tôi vì lòng từ muốn cô được lợi ích nên khuyên can. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên can nữa, vậy cô có bỏ việc ấy không?" Nếu đáp: "Không bỏ", thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba cũng như vậy; rồi ở chỗ nhiều người cũng khuyên can như vậy. Nếu không bỏ thì hãy đến
giữa chúng Tăng làm pháp Yết-ma cầu thính, hỏi như trường hợp ở chỗ vắng. Nhưng cô vẫn nhất quyết không bỏ.
Các Tỳ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỳ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi lại đầy đủ sự việc trên:
- Ngươi có việc đó thật không? 
- Có thật như vậy, Bạch Thế Tôn! 
- Đó là việc xấu, là điều phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.
Thế rồi, Phật bảo Đại Ái Đạo truyền lệnh cho các Tỳ-kheo-ni đang sống tại Ca-duy-la-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 
- Nếu Tỳ-kheo-ni nổi sân muốn bỏ (524a) giới, nói như sau: "Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Ni chúng, bỏ thuyết giới, bỏ sống chung, ăn chung, bỏ kinh luận, bỏ Sa-môn Ni dòng họ Thích, làm Sa-môn Ni dòng họ Thích để làm gì? Nơi khác cũng có pháp tối thắng. Tôi sẽ đến đó để tu phạm hạnh", thì các Tỳ-kheo-ni nên khuyên can Tỳ-kheo-ni ấy rằng: "Này Thánh giả, chớ có nổi sân bỏ giới, nói rằng tôi bỏ Phật, cho đến bỏ Sa-môn Ni dòng họ Thích; vì bỏ Phật là điều không tốt". Khi các Tỳ-kheo-ni khuyên can như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba. Nếu bỏ việc đó thì tốt, nếu không bỏ rồi được khuyên can đủ ba trường hợp thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa. 
Giải thích:
Tỳ-kheo-ni: Như người nữ dòng họ Thích muốn bỏ giới, bỏ Phật cho đến bỏ Sa-môn Ni.
Chư Tỳ-kheo-ni: Một người, nhiều người, Ni chúng.
Ba lần can gián: Trường hợp ở chỗ vắng, trường hợp ở chỗ đông người, chỗ Ni chúng. Bỏ thì tốt, không bỏ sau ba lần can gián thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
(Một số từ ở trên đã giải thích).
Khi khuyên can ở chỗ vắng mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì cứ mỗi lần khuyên can phạm một tội Việt-tỳ-ni. Khi khuyên can ở chỗ nhiều người cũng thế. Khi khuyên can ở giữa chúng Tăng thì lần thứ nhất bắt đầu khuyên can, phạm tội Việt-tỳ-ni , khuyên can xong, phạm tội Thâu-lan-giá; lần thứ hai bắt đầu khuyên can cũng phạm tội Việt-tỳ-ni , khuyên can xong phạm tội Thâu-lan-giá; lần thứ ba bắt đầu khuyên can phạm tội Thâu-lan-giá, khuyên can xong phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Tội Tăng-già-bà-thi-sa khởi đầu từ lúc khuyên can ở chỗ vắng, ở chỗ nhiều người, ở giữa Ni chúng kết thành một tội nặng và phải trị phạt theo tội Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu như nửa chừng mà đình chỉ thì tùy theo đình chỉ ở chỗ nào trị tội ở khoản đó. Thế nên, Đức Thế Tôn nói (như trên).
KẾT THÚC GIỚI TĂNG-GIÀ-BÀ-THI-SA.
Xin các Thánh giả Ni lắng nghe. Tôi đã thuyết xong 19 pháp Tăng-già-bà-thi-sa. Mười hai pháp đầu hễ bắt đầu phạm là thành tội, còn bảy pháp sau phải trải qua ba lần khuyên can (mà không bỏ mới thành tội). Nếu Tỳ-kheo-ni phạm mỗi một tội thì phải hành pháp Ma-na-đỏa ở giữa hai bộ chúng trong nửa tháng. Kế đến, cho xuất tội trước hai bộ chúng, mỗi bộ hai mươi người, để cho vừa ý mọi người. Nếu Tăng số hai mươi người mà thiếu một người... thì việc xuất tội Tỳ-kheo-ni này không thành, mà các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni còn đáng khiển trách. Thế nên, khi xuất tội cần phải hỏi: "Các vị ở trong đây có
thanh tịnh không?", lần thứ hai, thứ ba cũng hỏi: "Các vị ở trong đây có thanh tịnh không? Các vị ở trong đây thanh tịnh nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy".
Kệ tóm tắt:
"Làm mai mối, vu khống, 
Tranh tụng, đi một mình. 
Không cho, người phạm tội, 
Qua sông, tự xả tội. 
Nhận vật người ô nhiễm, 
Khuyên lấy vật bố thí. 
(524b) Mười hai thuộc sơ tội. 
Phá Tăng và tương trợ. 
Giận dữ hủy báng Tăng, 
Bướng bỉnh, sống gần nhau. 
Khuyên thân cận, bỏ giới, 
Kết thúc thiên thứ hai".
PHẦN ĐẦU CỦA NI TÁT KỲ
"Mười ngày, rời y ngủ, 
Phi thời, cầm vàng bạc. 
Mua bán và xin y, 
Cho xin, được lấy hai, 
Đòi y hai cư sĩ, 
Vua tôi việc thứ mười, 
Trong Tỳ-kheo đã nói. 
Kết thúc phần thứ nhất".
/243
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »