Không tàn, tám Thượng tọa,
Kết thúc phần thứ năm".
Trong phần linh tinh của Tỳ-kheo thì 9 việc: "Biệt trụ, tỏi, ô dù, xe cộ, dùng dao chữa bệnh, giày dép, ngồi chung một giường, nằm chung một giường, ca nhạc" nên để ra ngoài không bàn đến. Ngoài ra 13 việc còn lại thì Tỳ-kheo-ni khác biệt. Năm phần linh tinh thuộc về oai nghi thì các việc: "Ở a-luyện-nhã, vào nhà tắm, làm cầu tiêu, vá y, chiếu đan" nên để ra ngoài không nói đến. Ngoài ra, giống với Tỳ-kheo-ni
Giới kinh của Ni bộ gồm 500 học giới được Đức Thế Tôn chia ra thuyết minh tuần tự: Bài tựa của giới kinh; 8 Ba-la-di, 19 Tăng-già-bà-thi-sa; 30 Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề; 141 Ba-dạ-đề; 8 Ba-la-đề-đề-xá-ni; 64 pháp Chúng học, 7 pháp Diệt tránh; sau cùng là bài kệ nói về Pháp và tùy thuận pháp.
Giới bổn của Tỳ-kheo-ni đến đây là hết.
-ooOoo-
GHI CHÚ RIÊNG VỀ LUẬT MA-HA TĂNG-KÌ.
(548b) Ngày xưa khi vị ác vương tạm thời cai trị, các Sa-môn phải lánh đi khắp nơi; những Tỳ-kheo tinh thông tam tạng còn rất thưa thớt. Đến khi ác vương băng hà, Thiện vương lên ngôi, bèn mời các Sa-môn về nước cúng dường. Lúc ấy, tại ấp Ba-liên-phất có 500 vị Tăng muốn giải quyết công việc nhưng không có Luật sư, lại không có Luật văn, không lấy gì để làm cơ sở, liền sai người đến tinh xá Kỳ Hoàn chép
được bản luật còn truyền đến ngày nay (tức bộ Luật này đây).
Pháp Hiển tôi chép được bản luật này bằng chữ Phạn tại tinh xá Thiên Vương, phía Nam tháp A-dục vương, ấp Ba-liên-phất, nước Ma-kiệt-đề, rồi đem về Dương Châu. Thế rồi, tôi cùng Thiền sư (Phật-bà-bạt-đà-la) dịch từ chữ Phạn sang chữ Tần (Hán), tại chùa Đấu Trường, từ tháng 11 năm Bính Thìn, niên hiệu Nghĩa Hi thứ 12 (416) đời Tấn đến cuối tháng 2 năm Nghĩa Hi thứ 14 (418) thì hoàn thành; do đó ghi lại đôi dòng để biết.
Sau khi Phật Nê-hoàn, Tôn giả Đại Ca-diếp tập họp các vị Đại sư tinh thông tám vạn Pháp tạng để kết tập Luật Tạng. Thế rồi, sau khi Đại Ca-diếp nhập diệt, Tôn giả A-nan lại kế thế giữ gìn đầy đủ tám vạn Pháp tạng. Kế đến Tôn giả, Mạt-điền-địa cũng giữ gìn đầy đủ tám vạn Pháp tạng. Kế đến Tôn giả Xá-na-bà-tư cũng giữ gìn đầy đủ tám vạn Pháp tạng. Kế đến, Tôn giả Ưu-ba-quật-đa (người được Thế Tôn thọ ký là Phật Vô Tướng, như trong nhân duyên hàng ma đã nói rõ) không thể giữ gìn đầy đủ tám vạn Pháp tạng, do đó mà phát sinh ra tên của năm bộ phái. Đầu tiên, Đàm-ma-quật-đa lập riêng ra một bộ. Tiếp theo, Di-sa-tắc lập riêng ra một bộ. Tiếp theo, Ca-diếp-duy lại lập ra một bộ. Tiếp theo là Tát-bà-đa mà Tát-bà-đa nước Tấn (Hán) dịch là Thuyết Nhất Thiết Hữu, nghĩa là ý nghĩa và tôn chỉ của các bộ trên đều chủ trương khác nhau. Bộ này cho rằng thân trung ấm trong ba giai đoạn quá khứ, hiện tại và vị lai đều có tính cách khác nhau, do đó mà gọi Nhất thiết hữu.