xứ cùng Bố-tát, tự tứ và thực hiện pháp Yết-ma, đó gọi là Tăng hòa hợp.
Lại nữa, Tôn giả Ưu-ba-ly đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, rồi bạch với Phật:
- Bạch Thế Tôn! Tăng hòa hợp có những công đức gì?
- Này Ưu-ba-ly! Được quả báo lành trong một kiếp.
Đó gọi là Tăng hòa hợp.
NĂM TRĂM TỈ-KHEO KẾT TẬP PHÁP TẠNG.
Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, vua A-xà-thế con bà Vi-đề-hi có mối oán thù với người Tỳ-xá-ly như trong Kinh Đại Bát Nê-hoàn đã nói rõ, cho đến việc Đức Thế Tôn xả thọ mạng bên tháp Phóng Cung Trượng, tại Tỳ-xá-ly. Thế rồi, Ngài hướng đến thành Câu-thi-na, bên dòng sông Hi Liên Thiền, sinh quán của lực sĩ, trong rừng Kiên cố (490a) bát Nê-hoàn dưới cây Song thọ. Khi sắp hỏa thiêu nơi tháp Thiên Quan thì chư Thiên làm cho lửa không cháy để chờ Tôn giả Đại Ca-diếp. Lúc ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp đang ngồi thiền trong hang Tân-bát-la trên núi Kỳ Xà Quật, liền suy nghĩ: "Thế Tôn đã xả thọ mạng, không biết muốn nhập Niết-bàn tại nơi nào? hiện giờ ở đâu? có ít bệnh, ít phiền não và sống an lạc không?". Suy nghĩ thế rồi, liền nhập định, dùng thiên nhãn quan sát tất cả thế giới thì thấy Thế Tôn đang ở thành Câu-thi-na, bên sông Hi liên, sinh quán của lực sĩ trong rừng Kiên cố, giữa hai cây Song thọ, sắp được hỏa thiêu tại tháp Thiên Quan, (cho đến) lửa không cháy. Thấy thế, Tôn giả buồn thảm không vui, lại suy nghĩ: "Ngay lúc xá lợi của Thế Tôn chưa phân tán, ta nên đến đảnh lễ". Đoạn, Tôn giả lại nghĩ: "Giờ đây ta
đến để viếng thân tối hậu của Thế Tôn thì không nên dùng thần túc để đến mà nên đi bộ đến". Nghĩ thế, Tôn giả nói với các Tỳ-kheo:
- Này các trưởng lão! Đức Thế Tôn đã Bát Nê-hoàn, ai nấy đều mang theo y bát cùng đến Câu-thi-na-kiệt lễ viếng Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo nghe thế, đều đáp:
- Lành thay!
Lúc ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp cùng với các Tỳ-kheo đi đến Câu-thi-na-kiệt. Trên đường đi, họ băng qua một thôn xóm. Trong thôn này có một Tỳ-kheo già đang sống. Tôn giả Đại Ca-diếp liền bảo Tỳ-kheo già:
- Thầy hãy đem theo y bát đến đây, để chúng ta cùng đến thành Câu-thi-na-kiệt lễ viếng Thế Tôn.
- Trưởng lão Đại Ca-diếp! Đợi ăn bữa trước, bữa sau xong rồi chúng ta hãy đi.
- Không nên chờ ăn xong.
Tỳ-kheo già nài nỉ đến ba lần, Đại Ca-diếp đều nói:
- Không nên chờ.
Khi ấy, Tỳ-kheo già nổi giận, nói:
- Sa-môn có việc gì mà gấp gáp, vội vàng như thế, giống như quạ chết không đáng giá một đồng tiền. Hãy đợi trong chốc lát ăn rồi mới đi.
Tôn giả Đại Ca-diếp lại nói:
- Hãy để đồ ăn đó đã. Đức Thế Tôn nay đã Nê-hoàn, chúng ta phải đến gấp cho kịp lúc chưa hỏa thiêu.
Tỳ-kheo già nghe tin Phật đã Ban Nê-hoàn, liền nói với Tôn giả Đại Ca-diếp:
- Nay ta vĩnh viễn được giải thoát. Vì sao thế? Vì vị A-la-hán ấy lúc còn sống thường nói: "Việc ấy nên làm, việc kia không nên làm". Nay đã Nê-hoàn việc gì nên làm hay không nên làm ta đều được tự do tùy ý.
Khi nghe lời nói ấy, Đại Ca-diếp sầu thảm không vui, liền gảy ngón tay phải, lửa phóng ra, đồng thời chân phải mím chặt trên đất. Tỳ-kheo già thấy thế hoảng sợ, bỏ chạy. Thế rồi, Đại Ca-diếp đi đến chỗ Phật. Thế Tôn liền (490b) đưa hai chân từ trong kim quan ra ngoài. Khi Tôn giả Đại Ca-diếp thấy được chân Phật, liền trật vai áo bên phải, cúi đầu đảnh lễ, rồi đọc kệ:
Chân Như Lai đầy đặn,
Hiện bánh xe ngàn căm.
Ngón dài nhọn mềm mại,
Hình mạng lưới cấu thành.
Vì thế hôm nay con
Đảnh lễ chân tối thắng.
Chân mềm mại tối thắng,
Từng du hành thế gian.
Đại bi cứu chúng sinh,
Từ nay không gặp nữa.
Vì thế hôm nay con
Đảnh lễ chân Như Lai.
Như Lai cứu độ con,
Đạt Ứng chân giải thoát.
Nay con nhìn lần cuối,
Vĩnh viễn không gặp nữa.
Đã đoạn mọi nghi hoặc,
Bậc Ly dục Tối thượng.
Làm lợi ích mọi loài
Tất cả đều hoan hỷ.
Vì thế hôm nay con
Đảnh lễ chân Tối thắng.
Đức hạnh Phật như vậy,
Khéo đáp mọi nghi ngờ.
Ngày hôm nay đã qua
Ánh từ quang vĩnh diệt.
Vì thế hôm nay con,
Đảnh lễ chân Tối thắng.
Con chứng bốn chân lý,
Nói công đức của Phật.
Đọc kệ lễ kính xong,
Hai chân liền thu vào.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo bàn bạc: "Ai nên châm lửa thiêu đây?" Khi ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp nói:
- Tôi là trưởng tử của Thế Tôn, nên để tôi châm lửa thiêu.
Thế là đại chúng đồng thanh nói: "Tốt lắm", liền hỏa thiêu. Khi hỏa thiêu xong, Ca-diếp nhớ lại lời nói của vị Tỳ-kheo già ở trong thôn, cho đến: "Muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi", Tôn giả liền nói với các Tỳ-kheo:
- Này các trưởng lão! Vấn đề xá lợi của Thế Tôn không phải là việc của chúng ta mà quốc vương, trưởng giả, Bà-la-môn, cư sĩ, những người cầu phước tự họ sẽ lo việc cúng dường. Việc của chúng ta trước hết là phải kết tập Pháp tạng chớ để pháp Phật sớm diệt.
Mọi người bàn:
- Chúng ta nên kết tập Pháp tạng chỗ nào?
Lúc ấy, có người bàn: "Nên đến Xá-vệ"; có người nói: "Nên đến Sa-kỳ"; có người nói: "Nên đến Chiêm-bà"; có người nói: "Nên đến Tỳ-xá-ly"; có người lại nói: "Nên đến Ca-duy-la-vệ".
Bấy giờ, Đại Ca-diếp liền đề nghị:
- Nên đến thành Vương Xá kết tập Pháp tạng. Vì sao thế? Vì Đức Thế Tôn đã di chúc rằng (490c): Vua A-xà-thế con bà Vi-đề-hi ở thành Vương Xá là bậc có tín căn đệ nhất trong hàng Ưu-bà-tắc của các Thanh Văn. Vả lại, vị vua ấy có 500 chiếc giường nằm để cung cấp, nên đến chỗ vị ấy.
Nghe thế, tất cả đều đáp:
- Vâng.
Đức Thế Tôn trước kia có dặn Tôn giả A-na-luật rằng: "Khi Như Lai ban Nê-hoàn ông nên giữ gìn xá lợi đừng để chư Thiên đem đi. Bởi vì trong thời quá khứ Đức Như Lai ban Nê-hoàn, chư Thiên đem xá lợi đi, khiến người đời không thể đến đó chiêm bái được, nên mất công đức. Chư Thiên có thể đến nhân gian cúng dường, nhưng người đời không thể đến chỗ ho, ngoại trừ người có thần túc; vì thế phải giữ gìn cẩn thận".
Bấy giờ, thị giả A-nan vì bận việc cúng dường nên không đến được. Đại Ca-diếp cùng với 1000 Tỳ-kheo đi đến thành Vương Xá, tới trong hang núi Sát-đế, trải giường nệm, trang trí tòa của Thế Tôn. Ở phía trước, bên trái tòa Thế Tôn đặt tòa của Tôn giả Xá-lợi-phất, ở bên phải đặt tòa của Tôn giả Đại-mục-kiền-liên, kế đến đặt tòa của Đại Ca-diếp, cứ như vậy lần lượt theo thứ tự bài
trí giường nệm rồi chuẩn bị những nhu yếu cần thiết trong bốn tháng. Vì mục đích kết tập Pháp tạng cho nên cắt đứt các ngoại duyên. Khi đại chúng tập hợp xong, trong số đó có người đạt được Tam minh, Lục thông giới đức tự tại. Trong những người này, có người trực tiếp thọ giáo với Thế Tôn, đọc thuộc một bộ Luật; có người theo chúng Thanh-văn đọc thuộc một bộ Luật; có người thọ giáo trực tiếp với Thế Tôn đọc thuộc hai bộ Luật; có người theo chúng Thanh-văn đọc thuộc hai bộ Luật. Thế rồi, đại chúng cùng bàn bạc:
- Ở trong này nên chọn những vị đạt được Tam minh, Lục thông, có giới đức tự tại, từng thọ giáo trực tiếp với Thế Tôn tụng thuộc hai bộ Luật, từng theo chúng Thanh-văn tụng thuộc hai bộ Luật.
Khi chọn lựa xong, đếm lại thì thấy thiếu hai người mới đủ số 500, đại chúng bàn tiếp:
- Nên chọn đủ 500 người.
Thế rồi, Trưởng lão A-na-luật đi đến bổ sung thêm nhưng vẫn thiếu một người. Khi ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp làm Thượng tọa thứ nhất, Thượng tọa thứ hai tên Na Đầu Lô, Thượng tọa thứ ba tên Ưu-ba-na-đầu-lô. Lúc ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp tự lên ngồi tòa của mình, để trống tòa của Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-liên và A-nan. Thế rồi, các Tỳ-kheo lần lượt ngồi theo thứ tự.
Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp bảo Trưởng lão Lê-bà-đề đệ tử đồng hành của Tôn giả Mục-liên:
- Ông hãy lên cõi trời Ba mươi ba gọi Tỳ-kheo Tủy-đề-na đến, nói rằng: "Đức Thế Tôn đã ban Nê-hoàn, Tỳ-kheo Tăng đang tập họp định kết tập Pháp tạng".
Thầy liền vâng lệnh, đi đến cõi trời Ba mươi ba, bạch:
- Thưa trưởng lão! Đức Thế Tôn đã Ban Nê-hoàn, Tỳ-kheo Tăng đang tập họp định kết tập Pháp tạng nên sai tôi đến gọi trưởng lão.
Vị Tỳ-kheo này nghe xong sầu thảm, không vui, bèn hỏi:
- Đức Thế Tôn đã Ban Nê-hoàn rồi sao?
- (491a) Thưa vâng.
- Nếu Đức Thế Tôn còn ở cõi Diêm-phù-đề thì tôi sẽ đến, nay Thế Tôn đã Ban Nê-hoàn thì con mắt của thế gian đã hoại diệt.
Thầy nói xong, dùng thần túc bay lên hư không, nhập Hỏa quang tam muội tự thiêu thân. Vị sứ giả thấy vậy trở về, vào giữa Tăng thuật lại đầy đủ sự việc trên, cho đến đoạn: Nhập Hỏa quang tam muội. Thế rồi, Tăng lại sai thầy lên cung Thi-lợi-sa-sí, cõi trời Ba mươi ba gọi Kiều-phạm-ba-đề; lần lượt đến Trưởng lão Thiện-kiến ở Hương-sơn; Trưởng lão Phả-đầu-tẩy-na ở Du-hí-sơn; Trưởng lão Bạt-khư-lê ở Chiêm-ba-sơn; rồi đến Trưởng lão Uất-đa-la ở Tịnh-sơn; đệ tử của Tôn giả Mục-liên tên Đại-quang ở Quang-sơn; đệ tử của Tôn giả Xá-lợi-phất tên Ma-tẩu-lô ở Mạn-đà-sơn; Tôn giả La-đổ ở Ma-la-sơn. Các vị ấy, khi nghe gọi đều Ban Nê-hoàn. Đồng thời Tăng sai sứ giả đến Thiên cung Tỳ Sa-môn gọi Tu-mật-đa. Sứ giả đến nơi thưa:
- Thưa trưởng lão! Đức Thế Tôn đã Ban Nê-hoàn, Tỳ-kheo đang tập họp định kết tập Pháp tạng, cho tôi đến gọi trưởng lão.
Vị Tỳ-kheo ấy nghe xong sầu thảm, không vui, nói:
- Đức Thế Tôn đã ban Nê-hoàn rồi sao?
- Thưa vâng!
- Nếu Thế Tôn còn ở cõi Diêm-phù-đề thì tôi sẽ đến, nay Thế Tôn đã ban Nê-hoàn tức là con mắt của thế gian đã diệt mất.
Nói xong, thầy dùng thần túc bay lên hư không, nhập Hỏa quang tam muội, tự thiêu thân, nhập vào Niết-bàn. Bấy giờ, sứ giả liền trở về vào giữa Tăng thuật lại đầy đủ sự việc trên cho chư Tăng nghe. Đại Ca-diếp liền nói:
- Này các trưởng lão! Hãy thôi, đừng gọi những người khác nữa. Những ai nghe gọi đều tự nhập Niết-bàn, nếu cứ gọi tiếp thì họ sẽ nhập Niết-bàn hết, như thế thì phước điền của cõi đời này sẽ thành ra trống không.
Có một Tỳ-kheo nói:
- Thưa các trưởng lão! Tôn giả A-nan là thị giả của Phật, từng thân cận thọ giáo. Hơn nữa Đức Thế Tôn từng phú chúc rằng A-nan có ba việc đặc biệt, nên gọi thầy đến.
Đại Ca-diếp nói:
- Không phải vậy! Nếu như người còn đang học này vào trong chúng Vô học có giới đức tự tại thì cũng như con chó ghẻ vào giữa bầy sư tử.
Lúc này Tôn giả A-nan sắp xếp việc cúng dường vừa xong, đi đến một thôn, rồi thầm nhủ: "Hôm nay ta nghỉ lại đây, ngày mai sẽ đến thành Xá-vệ". Thế rồi, có một vị trời đến nói với A-nan:
- Đại Ca-diếp nói rằng Tôn giả là con chó ghẻ.
A-nan bèn suy nghĩ: "Đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn, chính lúc này ta cần người để nương tựa, vì sao lại ví ta như con chó ghẻ?".
Nghĩ thế nên lòng không vui, rồi thầy lại nghĩ: "Tôn giả Đại Ca-diếp này biết quá rõ dòng dõi tên tuổi của ta, vì cho rằng ta chưa đoạn trừ hết kiết sử nên mới nói như vậy".
Bấy giờ, Tôn giả (491b) A-nan càng siêng năng gấp bội đi kinh hành không biếng nhác, mong hết sạch hữu lậu nên hành đạo cực khổ. Hơn nữa, vì Thế Tôn Nê-hoàn khiến thầy mang nỗi buồn da diết trong lòng, đồng thời những gì trước đây đã nghe và thu nhận thì chưa thấu triệt, nên lại nghĩ ngợi: "Đức Thế Tôn đã phú chúc rằng đối với giáo pháp này tâm ta không phóng dật sẽ dứt sạch hữu lậu, vậy thì phải cực khổ quá làm gì!". Thế nhưng tâm thầy vẫn không xả định, nghiêng mình định nằm xuống, đầu chưa chấm gối thì sạch hết hữu lậu, đạt được Tam minh Lục thông có sức lực tự tại. Thầy liền dùng thần túc nương theo hư không mà đi, đến ngoài cửa hang Sát đế, đọc kệ rằng:
Đa văn và biện tài,
Là thị giả Thế Tôn.
A-nan con Cù Đàm
Giờ đang đứng ngoài cửa.
Thế nhưng, đại chúng vẫn chưa mở cửa cho thầy, nên thầy lại đọc kệ tiếp:
Đa văn khéo biện tài,
Là thị giả Thế Tôn.
Đã bỏ gánh kiết sử,
Con Cù Đàm ngoài này.
Bấy giờ, Đại Ca-diếp liền đọc kệ:
Ông nói mình đã chứng,
Đã bỏ gánh phiền não.
Con Cù Đàm chưa vào,
Vào đi con Cù Đàm!
A-nan vào xong, đảnh lễ tòa của Thế Tôn, rồi tuần tự đảnh lễ các Thượng tọa, đoạn, đến ngồi tòa của mình. Khi ấy, Đại Ca-diếp nói với A-nan:
- Tôi không tự cao cũng không khinh ông, chỉ vì ông cầu đạo không tiến bộ, muốn cho ông tinh cần diệt hết các hữu lậu cho nên mới nói lời ấy.
- Tôi cũng biết! Chỉ vì tôi chưa hết kiết sử, muốn cho tôi tinh cần diệt hết các hữu lậu (nên Tôn giả mới nói như vậy).
Lúc ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp liền hỏi chúng Tăng đang ngồi:
- Giờ đây nên kết tập tạng nào trước?
- Nên kết tập tạng Pháp (Kinh) trước.
- Nên cử ai kết tập?
- Nên cử Trưởng lão A-nan.
A-nan liền nói:
- Không nên làm như vậy vì còn có nhiều Trưởng lão Tỳ-kheo khác.
Đại chúng lại nói:
- Tuy có nhiều Trưởng lão Tỳ-kheo khác nhưng Đức Thế Tôn đã phú chúc rằng thầy là người đa văn bậc nhất, do đó thầy nên kết tập.
- Nếu các Trưởng lão đề cử tôi kết tập thì điều gì như pháp nên hoan hỷ, điều gì không như pháp nên ngăn cản, điều gì không tương ưng cũng nên ngăn cản chứ đừng vì tôn trọng tôi mà không ngăn cản. Nói chung, điều gì đúng nghĩa, điều gì không đúng nghĩa đều xin chỉ giáo.
- Trưởng lão A-nan! Thầy chỉ cần kết tập Pháp tạng, điều gì như pháp thì Tăng tùy hỉ, điều gì phi pháp (491c) thì đến lúc đó sẽ biết.
Lúc ấy, Tôn giả A-nan bèn suy nghĩ: "Bây giờ ta phải kết tập Pháp tạng như thế nào đây?" Suy nghĩ thế rồi, thầy liền đọc lời Kinh:
"Tôi nghe như vầy, một thời Phật ở tại Uất Tỳ La, bên dòng sông Ni Liên, nơi Bồ-đề Mạn-đà-la". Khi Tôn giả A-nan vừa nói lời ấy thì 500 vị A-la-hán có đức hạnh tự tại liền bay lên hư không đồng thanh khen ngợi:
- Chúng con đã được tận mắt thấy Thế Tôn, giờ đây lại được nghe lời dạy.
Rồi cùng niệm: "Nam mô Phật", đoạn trở lại chỗ ngồi.
Bây giờ, A-nan liền đọc kệ sau đây:
-Siêng tu tập thiền định,
Thấy các pháp sinh diệt.
Biết pháp từ duyên khởi,
Lìa si, diệt phiền não.
Siêng tu tập thiền định,
Thấy các pháp sinh diệt.
Biết pháp từ duyên khởi,
Chứng các pháp diệt tận.
Siêng tu tập thiền định,
Thấy các pháp sinh diệt.
Biết pháp từ duyên khởi,
Nhiếp phục bọn ma quân.
Siêng tu tập thiền định,
Thấy các pháp sinh diệt.
Biết pháp từ duyên khởi
Ánh dương xua bóng đêm.
Tôn giả A-nan đọc tất cả Pháp tạng như vậy. Những câu văn dài kết tập thành Trường A Hàm. Những câu văn trung bình kết tập thành Trung A Hàm. Những câu văn linh tinh kết tập thành Tạp A Hàm, chẳng hạn như căn tạp, lực tạp, giáp tạp, đạo tạp, đại loại như thế gọi là tạp. Từ một tăng lên hai, tăng lên ba cho đến tăng lên 100, tùy theo số loại tương tự nhau kết tập thành Tăng Nhất A Hàm. Tạp tạng bao gồm Bích Chi Phật, A-la-hán, tự thuyết, bản hạnh, nhân duyên, các kệ tụng, đại loại như vậy gọi là Tạp tạng.
Khi ấy, Trưởng lão A-nan liền đọc kệ:
- Đây chính là tám vạn Pháp tạng,
Các pháp này được nghe từ Phật.
Đây chính là tám vạn Pháp tạng,
Các pháp này nghe từ người khác.
Các pháp này tôi giữ vẹn toàn,
Chính Phật dạy đường đến Niết-bàn.
Đó gọi là kết tập Pháp tạng.
Tiếp đến, đại chúng hỏi:
- Ai có thể kết tập Luật tạng?
Có người nói:
- Trưởng lão Ưu-ba-ly.
Ưu-ba-ly liền lên tiếng:
- Không thể như vậy vì còn có những Trưởng lão Tỳ-kheo khác.
Có người lại nói:
- Tuy có những Trưởng lão Tỳ-kheo khác nhưng Đức Thế Tôn đã phú chúc rằng Trưởng lão thành tựu 14 pháp, trừ (492a) Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri ra thì Trưởng lão là người trì Luật bậc nhất.
Ưu-ba-ly nói:
- Thưa các trưởng lão! Nếu bảo tôi kết tập Luật tạng thì điều gì như pháp hãy tùy hỷ, điều gì không như pháp hãy ngăn cản; nếu điều gì không tương ưng thì nên ngăn cản chứ đừng vì tôn trọng tôi (mà bỏ qua); đồng thời điều nào đúng nghĩa, trái nghĩa cũng đều xin chỉ giáo.
Thế rồi, tất cả đều nói:
- Trưởng lão Ưu-ba-ly chỉ lo việc kết tập, điều gì như pháp thì chúng tôi tùy hỷ, điều gì phi pháp thì lúc đó sẽ biết.
Tôn giả Ưu-ba-ly suy nghĩ: "Hôm nay ta kết tập Luật tạng như thế nào đây? Đối với 5 pháp thanh tịnh mà như pháp, như Luật thì tùy hỷ, còn không như pháp như Luật thì nên bỏ ra ngoài. 5 pháp thanh tịnh:
1- Hạn chế tịnh.
2- Phương pháp tịnh.
3- Giới hạnh tịnh.
4- Trưởng lão tịnh.
5- Phong tục tịnh.
1- Hạn chế tịnh: Tại trú xứ của các Tỳ-kheo đặt ra các hạn chế rằng điều gì tương ưng với bốn giáo lý cơ bản thì dùng, không tương ưng thì bỏ. Đó gọi là hạn chế tịnh.
2- Phương pháp tịnh: Đối với những luật pháp của quốc gia, điều gì tương ưng với bốn giáo lý cơ bản thì dùng, không tương ưng thì bỏ. Đó gọi là phương pháp tịnh.
3- Giới hạnh tịnh: Khi ta thấy Tỳ-kheo mỗ giáp trì giới làm việc đó mà tương ưng với bốn giáo lý cơ bản thì dùng, nếu không tương ưng thì bỏ. Đó gọi là giới hạnh tịnh.
4- Trưởng lão tịnh: Nếu ta thấy Trưởng lão Tỳ-kheo, Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-liên làm việc đó mà tương ưng với bốn giáo lý cơ bản thì dùng, không tương ưng thì bỏ. Đó gọi là Trưởng lão tịnh.
5- Phong tục tịnh: Không được làm những việc như khi còn thế tục, chẳng hạn ăn phi thời, uống rượu, hành dâm; tất cả những việc như vậy hợp pháp đối với thế tục nhưng không hợp pháp đối với người xuất gia. Đó gọi là phong tục tịnh.
Thưa các trưởng lão! Những điều như thế nếu đúng pháp thì xin tùy hỷ, nếu không đúng pháp thì xin lên tiếng.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo liền đáp:
- Nếu tương ưng thì dùng, nếu không tương ưng thì lúc ấy sẽ ngăn cản.
Thế rồi, Tôn giả Ưu-ba-ly nói với A-nan:
- Trưởng lão có tội, phải sám hối với chúng Tăng thanh tịnh.
- Tôi có những tội gì?
- Đức Thế Tôn đến ba lần chế định không cho phép độ người nữ xuất gia mà thầy xin Thế Tôn đến ba lần, thế là phạm tội Việt-tỳ-ni.
Khi ấy, Tôn giả Đại Ca-diếp bèn ném một cái thẻ xuống đất, nói:
- Đây là thẻ thứ nhất.
Tức thì chấn động cả tam thiên đại thiên thế giới.
Lại nữa, khi Phật an trú tại Tỳ-xá-ly, Ngài nói:
"Này A-nan! Ta ở Ban Lạc phóng cung trượng tháp tại Tỳ-xá-ly này rất an lạc; nếu ai được bốn thần túc thì có thể kéo dài mạng sống đến một kiếp, hoặc hơn một kiếp; nếu Phật ở đời thì người đời sẽ được thấy", thì thầy nói: "Như vậy đó Thế Tôn! Như vậy đó Tu-già-đà", mà không thỉnh Phật trụ thế nên phạm tội Việt-tỳ-ni. Tiếp tục ném thẻ thứ hai.
Lại nữa, khi may y Tăng-già-lê cho Thế Tôn, thầy đã dùng ngón chân phải đạp trên y, (492b) há thầy không biết rằng y Tăng-già-lê này là bảo tháp mà chư Thiên, người đời nên cúng dường hay sao? Vì thế phạm tội Việt-tỳ-ni. Tiếp tục ném thẻ thứ ba.
Lại nữa, Phật nói: "Này A-nan! Hãy đi lấy nước", nói như vậy đến ba lần mà thầy không lấy nước cho Thế Tôn, nên phạm tội Việt-tỳ-ni. Tiếp tục bỏ xuống thẻ thứ tư.
Lại nữa, Phật nói: "A-nan, khi Ta sắp nhập Niết-bàn nên nói với Ta, Ta sẽ vì các Tỳ-kheo bỏ những giới vi tế", nhưng thầy không bạch nên phạm tội Việt-tỳ-ni. Tiếp tục bỏ xuống thẻ thứ năm.
Lại nữa, khi Phật ban Nê-hoàn, thầy để mã âm tàng của Phật cho Tỳ-kheo-ni xem, nên phạm tội Việt-tỳ-ni. Tiếp tục bỏ xuống thẻ thứ sáu.
Lại nữa, khi Phật ban Nê-hoàn, các lão mẫu của lực sĩ đến khóc khiến nước mắt nhỏ trên chân Thế Tôn, thầy là thị giả mà không ngăn cản nên phạm tội Việt-tỳ-ni. Tiếp tục bỏ xuống thẻ thứ bảy.
Lúc ấy, A-nan không nhận hai tội, nói như sau:
- Thưa trưởng lão! Chư Phật quá khứ đều có bốn chúng, vì thế tôi thỉnh Phật độ Tỳ-kheo-ni đến ba lần. Còn khi Phật ở Tỳ-xá-ly, ba lần báo cho biết mà tôi không thỉnh Phật trụ thế là vì lúc ấy tôi là người còn đang học, bị ma che mờ cho nên không thỉnh. Ở đây tôi chỉ phạm 5 tội Việt-tỳ-ni.
Thế rồi, Trưởng lão (sám hối) đúng như pháp.
Bấy giờ, Tôn giả Ưu-ba-ly liền bạch với đại chúng:
- Thưa các trưởng lão! Đây là thứ tự của 9 pháp:
1- Ba-la-di.
2- Tăng-già-bà-thi-sa.
3- Hai pháp Bất định.
4- Ba mươi pháp Ni-tát-kỳ.
5- Chín mươi hai pháp Ba-dạ-đề.
6- Bốn Ba-la-đề-đề-xá-ni.
7- Pháp chúng học.
8- Bảy pháp Diệt tránh.
9- Pháp tùy thuận.
Đức Thế Tôn tại mỗ xứ vì Tỳ-kheo mỗ giáp, chế những giới này phải không?
Bấy giờ, đại chúng cùng đáp:
- Đúng như vậy Ưu-ba-ly! Đúng như vậy Ưu-ba-ly.
Ưu-ba-ly tiếp:
- Trong Luật có ghi lại 5 việc sau đây:
1- Tu-đa-la.
2- Tỳ-ni.
3- Nghĩa.
4- Giáo.
5- Khinh trọng.
1- Tu-đa-la: chỉ cho 5 bộ Kinh.
2- Tỳ-ni: Tức hai bộ Luật rộng và hẹp.
3- Nghĩa: Ý nghĩa của từng câu.
4- Giáo: Bốn giáo lý cơ bản mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng cho Sát-lợi, Bà-la-môn và cư sĩ.
5- Khinh trọng: Lấy trộm đủ 5 tiền là nặng, dưới 5 tiền là nhẹ, phạm tội Thâu-lan-giá giá.
Đó gọi là 5 việc mà Luật đã ghi lại. Các Trưởng lão nên học như vậy.
Lại có năm điều luật nữa là:
1- Lược Tỳ-ni.
2- Quảng Tỳ-ni.
3- Phương diện Tỳ-ni.
4- Kiên cố Tỳ-ni.
5- Ứng pháp Tỳ-ni.
1- Lược Tỳ-ni: Tức 5 thiên giới.
2- Quảng Tỳ-ni: Tức 3 bộ Luật.
3- Phương diện Tỳ-ni: Tại-thâu-nô (492c) biên địa cho phép 5 thầy được truyền giới Tỳ-kheo.
4- Kiên cố Tỳ-ni: Khi thọ y Ca-hi-na được bỏ 5 việc, từ biệt chúng thực cho đến khi đi đâu không cần thưa với người cùng ăn chung với mình.
5- Ứng pháp Tỳ-ni: Trong đây Yết-ma đúng pháp và Yết-ma hòa hợp, đó gọi là làm đúng giới luật. Còn những cách khác là phi Yết-ma (Yết-ma phi pháp).
Thưa các trưởng lão, đến đây là kết tập Luật tạng hoàn tất.
Thế rồi, đại chúng bèn gọi 1.000 Tỳ-kheo ở ngoài vào, nói:
- Thưa các Trưởng lão! Như thế này là Tạng pháp (Kinh) đã được kết tập, như thế này là tạng Luật đã được kết tập.
Lúc ấy, có Tỳ-kheo nói:
- Thưa các Trưởng lão! Đức Thế Tôn trước kia đã nói với A-nan rằng Ngài muốn vì các Tỳ-kheo bỏ bớt một số giới nhỏ nhặt, vậy bỏ những giới nào?
Có Tỳ-kheo nói:
- Nếu Đức Thế Tôn muốn bỏ bớt các giới nhỏ nhặt thì nên bỏ oai nghi.
Có Tỳ-kheo nói:
- Không những bỏ oai nghi mà nên bỏ pháp Chúng học.
Có Tỳ-kheo nói:
- Cũng nên bỏ luôn cả 4 Ba-la-đề-đề-xá-ni.
Có Tỳ-kheo nói:
- Cũng nên bỏ luôn cả 92 pháp Ba-dạ-đề.
Có Tỳ-kheo nói:
- Cũng nên bỏ luôn cả 30 pháp Ni-tát-kỳ-ba-dạ-đề.
Có Tỳ-kheo nói:
- Cũng nên bỏ luôn cả 2 pháp Bất định.
Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo liền nói:
- Thưa các trưởng lão! Nếu như Thế Tôn còn tại thế thì nên bỏ hết tất cả.
Đại Ca-diếp oai nghi nghiêm chỉnh giống như Thế Tôn, liền nói như sau:
- Ôi! Ôi! Đừng nói lời ấy.
Tức thời tất cả đại chúng đều im lặng. Đại Ca-diếp liền tiếp:
- Này các Trưởng lão! Nếu đã chế định rồi lại mở ra thì sẽ khiến cho người ngoài nói: "Khi Cù Đàm còn ở đời nghi pháp hưng thịnh, ngày nay đã Nê-hoàn, giáo pháp suy đồi". Thưa các Trưởng lão! Những gì chưa chế thì đừng chế thêm nữa, những gì đã chế thì chúng ta nên tùy thuận học tập.
- Thế nhưng các pháp này được nghe từ ai?
- Được nghe từ Tôn giả Đạo Lực về Luật, Luận, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A hàm, Trung A Hàm, Trường A Hàm.
- Thế thì Đạo Lực nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Phất-sa-bà-đà-la.
- Tôn giả Phất-sa-bà-đà-la nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Pháp Thắng.
- Pháp Thắng nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Tăng-già-đề-bà.
- Tăng-già-đề-bà nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Long Giác.
- Long Giác nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Pháp Tiền.
- Pháp Tiền nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Đề-na-già.
- Đề-na-già nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Pháp Hộ.
- Pháp Hộ nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Kỳ-bà-già.
- Kỳ-bà-già nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Phất-đề-la.
- Phất-đề-la nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Da-xá.
- Da-xá nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Sai-đà.
- Sai-đà nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Hộ Mạng.
- Hộ Mạng nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Thiện Hộ.
- Thiện Hộ nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả (493a) Ngưu Hộ.
- Ngưu Hộ nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Cự-xá-la.
- Cự-xá-la nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Ma-cầu-đa.
- Ma-cầu-đa nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Ma-ha-na.
- Ma-ha-na nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Năng Hộ.
- Năng Hộ nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Mục Đa.
- Mục Đa nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Cự-hê.
- Cự-hê nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Pháp Cao.
- Pháp Cao nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Căn Hộ.
- Căn Hộ nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Kỳ Đa.
- Kỳ Đa nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Thọ-đề-đà-bà.
- Thọ-đề-đà-bà nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Đà-bà-ba-la.
- Đà-bà-ba-la nghe từ ai?
- Nghe từ Tôn giả Ưu-ba-ly.
- Ưu-ba-ly nghe từ ai?
- Nghe từ Phật.
- Phật nghe từ ai?
- Ngài tự giác ngộ không có thầy, cũng không nghe từ ai cả. Phật có vô lượng trí tuệ, vì lợi ích cho chúng sinh nên Ngài trao truyền cho Ưu-ba-ly. Ưu-ba-ly trao cho Đà-bà-ba-la. Đà-bà-ba-la trao cho Thọ-đề-đà-bà. Thọ-đề-đà-bà lần lượt trao xuống Tôn giả Đạo Lực, rồi Đạo Lực trao cho tôi và những người khác.
Kệ tóm tắt:
"Chúng ta nhờ thầy dạy,
Nghe từ Đấng Vô Thượng.
Giữ gìn đọc tụng Luật.
Pháp Hiền Thánh tuân hành.
Pháp Tạng của Thế Tôn,
Kế thừa sau Thích-ca.
Mỗi người phải tuân thủ,
Để chánh pháp còn mãi".
Đó gọi là 500 Tỳ-kheo kết tập Pháp tạng.
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hết quyển thứ ba mươi hai