nhất tìm một khúc cây, đại tiện cho rơi trên khúc cây trước rồi mới rơi trên cỏ.
Nếu chỗ đi kinh hành có cỏ thì nên để một ống nhổ ở đầu đoạn đường đi kinh hành. Thế nên Đức Thế Tôn nói (như trên).
Tỳ-kheo-ni: Như trên đã nói.
Nước: Gồm có 10 loại như trên đã nói. Nếu đại tiểu tiện khạc nhổ trong nước thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu vào mùa mưa nước ngập tràn lan thì nên đại tiểu tiện trên chỗ cao. Nếu không có chỗ cao thì nên đại tiểu tiện trên gạch, đá, cây cỏ khô, trên phân bò, phân ngựa. Nếu cũng không có thì nên dùng cây, cỏ, cành để lót, đại tiểu tiện cho rơi trên cây cỏ trước rồi mới rơi xuống nước sau. Nếu đào cầu tiêu mà ở dưới có nước chảy ra thì không được đi tiểu tiện trước trong đó; mà nên bảo tịnh nhân đại tiểu tiện trước, rồi Tỳ-kheo-ni mới đi sau. Nếu ở dưới cầu có dòng nước chảy thì nên đặt một tấm ván, để khi đi cầu rơi trên tấm ván trước rồi mới rơi xuống nước sau. Nếu khi đi thuyền có cầu tiêu thì nên đặt một tấm ván, để khi đi cầu phân rơi trên tấm ván trước rồi mới rơi xuống nước sau. Nếu không có tấm ván thì đặt một cành cây để khi đi cầu phân rơi trên cành cây trước, rồi mới rơi xuống nước sau.
Thế nên Đức Thế Tôn nói (như trên).
141- GIỚI: CHUYỂN LỢI CỦA TĂNG CHO MỘT NHÓM NGƯỜI.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ nhóm sáu Tỳ-kheo-ni đi du hành khuyến hóa, nói với người phụ nữ rằng: "Bà hãy cúng dường các thực phẩm để tôi sắm thức ăn cho các Tỳ-kheo". Người phụ nữ bèn đưa thực phẩm, rồi dặn: "Đến ngày cúng dường, cô tin cho tôi biết để tôi đến nấu nướng". Thế rồi, họ mời Tôn giả Xá-lợi-phất, Đại-mục-liên, Li-bà-đa, Kiếp-tân-na, Tôn giả La-
hầu-la; đồng thời mời nhóm sáu Tỳ-kheo, rồi sắp hai dãy ghế, một dãy dành cho Tỳ-kheo trưởng lão, một dãy dành cho nhóm sáu Tỳ-kheo. Khi đến giờ, các Trưởng lão Tỳ-kheo bèn khoác y cầm bát đi đến nhà thí chủ, ngồi theo thứ tự. Thế rồi, họ dọn cho Tôn giả Xá-lợi-phất cơm gạo trắng, canh mông cự và các loại sữa. Cứ thế chuyển dần đến thức ăn thô. Họ dọn cho Tôn giả Mục-liên cơm gạo thô, canh ma-sa, dầu, sữa. Còn các Tỳ-kheo khác thì dọn cơm gạo đỏ, canh ma-sa, hoặc có chỗ thì có cơm mà không có canh, hoặc có canh mà không có cơm. Cuối cùng, đến Tôn giả La-vân, họ dọn cơm gạo đỏ, canh rau tạp. Khi những phụ nữ bưng các thức ăn ngon lên hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo-ni rằng: "Dọn những thứ này cho ai?", thì các Tỳ-kheo-ni ấy bèn dùng thân mình che các Trưởng lão Tỳ-kheo mà chỉ nhóm sáu Tỳ-kheo, bảo dọn cơm trắng canh ngon, các món sữa; đồng thời (543c) tự tay mình bưng dọn phủ phê.
Khi các Tỳ-kheo thọ trai xong trở về, Phật biết nhưng vẫn hỏi Xá-lợi-phất:
- Này Xá-lợi-phất, được ăn các thức ngon đầy đủ không?
- Đã ăn rồi, Bạch Thế Tôn!
Phật hỏi ba lần như vậy thì thầy cũng đều đáp giống nhau. Phật lại hỏi từng Trưởng lão Tỳ-kheo như vậy, họ cũng đều đáp giống y như thế. Cuối cùng, Phật hỏi La-vân:
- Vì sao mà trông sắc diện, sức lực của ông có vẻ không đầy đủ? Có được ăn những thức ngon no nê không?
- Bạch Thế Tôn! Ăn dầu thì có sức lực, ăn sữa thì có sắc diện, còn ăn canh rau thì không có sắc diện, sức lực.
Đoạn, Phật hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
- Các ông có được ăn ngon không?
- Bạch Thế Tôn! Chúng con được cơm gạo trắng, canh ngon, các món sữa và những thức ăn ngon lành đều do các chị em có niềm tin ân cần dâng cúng.
- Người ngồi trên hết (Thượng tọa) là ai vậy?
- Là Tôn giả Xá-lợi-phất.
Phật liền hỏi Xá-lợi-phất:
- Ông có việc đó thật không?
- Có thật như vậy, Bạch Thế Tôn!
- Đây là cách ăn phi pháp. Vì sao ông ngồi nhìn Tỳ-kheo Tăng bị nhiễu loạn mà vẫn giữ thái độ thản nhiên?
- Nếu Thế Tôn dạy rằng đó là bữa ăn phi pháp thì dù trải qua một kiếp hay hơn một kiếp cũng không tiêu hóa được.
Thế là Tôn giả bèn dùng chiếc lông chim ngoáy vào yết hầu cho mửa thức ăn ra. Đồng thời, khi ấy Phật bảo gọi nhóm sáu Tỳ-kheo-ni đến. Khi họ tới rồi, Phật liền hỏi:
- Các ngươi có việc đó thật không?
- Có thật như vậy, Bạch Thế Tôn!
- Đó là việc xấu. Vì sao các ngươi biết đó là lợi ích của cả chúng mà lại xoay về cho một nhóm người? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.
Thế rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
- Nếu Tỳ-kheo-ni biết đó là lợi ích của cả chúng mà xoay về cho một nhóm người thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Giải thích:
Biết: Hoặc tự biết hoặc do nghe người khác mà biết.
Chúng: Tức là chúng Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo-ni.
Lợi: Gồm có tám thứ sau đây: Thuốc dùng đúng lúc, thuốc dùng ban đêm, thuốc dùng trong bảy ngày, thuốc dùng trọn đời, vật tùy thân, vật nặng, vật bất tịnh, vật vừa tịnh vừa bất tịnh.
Xoay về: Nếu vật ấy thí chủ đã định cúng chỗ này mà xoay sở để họ cúng chỗ khác th́ phạm tội Ba-dạ-đề.
Ba-dạ-đề: Như trên đã nói.
Nếu có người đến hỏi: "Tôi muốn cúng dường, vậy nên cúng dường nơi nào?", thì nên đáp: "Tùy theo ý ông, thích cúng dường nơi nào thì cúng dường nơi ấy". Nếu họ hỏi: "Ở đâu có công đức lớn?", thì nên đáp: "Cúng dường cho Tăng". Nếu họ hỏi: "Ở đâu có chúng Tăng giữ giới tinh nghiêm?", thì nên đáp: "Không có chúng Tăng nào lại phạm giới cả". Nếu họ hỏi: "Ở đâu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni giữ giới, ít việc, ngồi thiền, tụng kinh, ít đi vân du để tôi thường được thấy vật cúng dường này?", thì được nói: "Nên cúng dường cho mỗ giáp".
Nếu Tỳ-kheo-ni biết vật đó thí chủ định cúng cho Tăng mà vận động họ cúng cho mình thì phạm tội Ni-tát-kỳ Ba-dạ-đề. Nếu vận động họ cúng cho người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu biết họ định cúng cho chúng này mà vận động họ cúng cho chúng khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu họ định cúng cho nhóm người bà con này mà vận động họ cúng cho nhóm người bà con khác cũng phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu vật họ định cúng cho người này mà vận động họ cúng cho người khác thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Nếu Tỳ-kheo biết vật thí chủ định (544a) cúng cho chúng này mà vận động họ cúng cho chúng khác thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Thế nên Đức Thế Tôn nói (như trên).
Kệ tóm tắt: