PHÉP TẮC NÓI NĂNG.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỳ-kheo gọi nhau theo cách của người thế tục như: cha, mẹ, anh, em. Các Tỳ-kheo bèn đem việc ấy đến (510c) bạch lên Thế Tôn. Phật liền hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
- Các ông có việc đó thật không?
- Có thật như vậy, Bạch Thế Tôn!
- Từ nay trở đi, khi nói chuyện nên gọi như sau: Khi nói chuyện với cha, không được gọi là ông, cha, ông lão, mà nên gọi là Bà-lộ-ê-đa. Khi nói chuyện với mẹ, không được gọi là mẹ, bà, mà nên gọi là Bà-lộ-ê-đế. Khi nói chuyện với anh không được gọi là anh mà nên gọi là Bà-lộ-ê-đa. Khi nói chuyện với chị không được gọi là chị mà nên gọi là Bà-lộ-ê-đế. Khi nói chuyện với Hòa thượng, không được gọi là Bạt-đàn-đế, mà nên gọi là Ưu-ba-thượng. Khi nói chuyện với A-xà-lê (thầy) không được gọi là Bạt-đàn-đế, mà nên gọi là A-xà-lê. Nếu có nhiều A-xà-lê thì nên gọi là A-xà-lê mỗ giáp. Khi nói chuyện với Hạ tọa thì được gọi tên, gọi là Cự-đế, gọi là tuế. Khi nói chuyện với Thượng tọa thì nên gọi là Bạt-đàn-đế, hoặc là Tuệ mạng, hoặc là A-xà-lê. Khi có người gọi thì không được hỏi trổng trổng: "Nói gì đó? Việc gì đó?". Nếu Hòa thượng gọi thì nên đáp: "Dạ". Nếu A-xà-lê gọi thì nên đáp: "Dạ". Nếu Thượng tọa gọi cũng nên đáp: "Dạ". Nếu người trẻ gọi thì nên hỏi: "Vì sao mà gọi?". Nếu mẹ hay đàn ông gọi thì nên hỏi: "Vì sao mà gọi?". Khi có người hỏi: "Hòa thượng, A-xà-lê của ông tên gì?", thì không được nói thẳng tên của Hòa thượng, A-xà-lê, mà nên nói