có bệnh mà thầy thuốc bảo: "Thưa Trưởng lão! Bệnh này phải uống tỏi mới bớt, nếu không uống thì không bớt", mà không còn phương pháp nào khác để chữa trị, thì Ta cho phép uống. Khi uống tỏi (483c) phải thi hành 7 ngày pháp tùy thuận như sau: Ở trong một căn phòng nhỏ; Không được nằm trên giường nệm của chúng Tăng; Không được đi đại tiểu tiện nơi phòng vệ sinh của Tăng; Không được rửa chân ở chỗ Tăng rửa chân; Không được vào nhà sưởi, giảng đường và nhà ăn; Không được đi dự hội theo thứ tự do Tăng sai; Không được đi vào chỗ Tăng đang ăn và phòng thiền; Không được vào trong chỗ Tăng đang thuyết pháp, Bố-tát; chỗ nào Tỳ-kheo đang hội hợp thì nhất thiết không được đến; không nên nhiễu tháp, nếu tháp ở chỗ trống trải thì được lễ bái từ xa ở dưới gió. Sau 7 ngày hành pháp tùy thuận, đến ngày thứ 8 phải tắm rửa, giặt y phục, xông hương, rồi mới được vào trong Tăng. Nếu Tỳ-kheo không bệnh mà ăn tỏi hay có bệnh mà ăn tỏi nhưng không hành pháp tùy thuận thì cả hai đều phạm tội Việt-tỳ-ni.
Đó gọi là phép dùng tỏi.
PHÉP PHÚ BÁT ( TẨY CHAY ).
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, Ưu-bà-tắc Pháp Dự ở trong thành này thường mời Tăng theo thứ lớp thọ trai. Khi Tỳ-kheo tới nhà, ông cật vấn nghĩa lý, ai giải thích được thì ông rất hoan hỷ, tự tay dọn các thức ăn. Ai không đáp được thì ông hủy nhục, sai nô tỳ dọn thức ăn thô sơ. Vì thế theo thứ lớp đến phiên Thượng tọa đi thì không đi, liền bảo: "Mời tiếp những người dưới", cho đến
những người trẻ tuổi cũng đều không muốn đi. Do vậy mà lời qua tiếng lại om sòm. Phật biết mà vẫn hỏi các Tỳ-kheo:
- Vì sao mà có lời qua tiếng lại om sòm như vậy?
- Bạch Thế Tôn! Ưu-bà-tắc Pháp Dự thường mời chư Tăng thọ trai theo thứ lớp. Thế rồi, người phải đi thì không đi, vì vậy mà có lời qua tiếng lại om sòm.
- Này các Tỳ-kheo! Ưu-bà-tắc Pháp Dự khinh mạn các Tỳ-kheo, Tăng nên làm Yết-ma phú bát (tẩy chay). Nếu Ưu-bà-tắc có 8 việc sau đây, thì Tăng nên làm Yết-ma phú bát, đó là:
1- Phỉ báng Tỳ-kheo ngay trước mặt.
2- Khiển trách Tỳ-kheo ngay trước mặt, nói như sau: "Ông là kẻ ác hạnh".
3- Nổi giận mắng chửi Tỳ-kheo ngay trước mặt.
4- Cắt đứt lợi dưỡng của Tỳ-kheo.
5- Không thích làm việc chung với Tỳ-kheo.
6- Chửi Phật
7- Chửi Pháp
8 - Chửi Tăng.
Đó gọi là 8 việc Tăng nên làm Yết-ma phú bát. Người làm Yết-ma nên nói như sau:
- Xin đại đức Tăng lắng nghe! Ưu-bà-tắc Pháp Dự này khinh mạn các Tỳ-kheo. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Ưu-bà-tắc Pháp Dự - khinh mạn các Tỳ-kheo - pháp Yết-ma phú bát. Đây là lời tác bạch.
(Thế rồi bạch tam Yết-ma cho đến)
Tăng đã cho Ưu-bà-tắc Pháp Dự - khinh mạn các Tỳ-kheo - pháp Yết-ma phú bát xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.
Đoạn, nói về Ưu-bà-tắc Pháp Dự, vốn thường cúng dường trai phạn cho chư Tăng rồi mới ăn. Nhưng hôm ấy, đợi Tỳ-kheo đã quá giờ mà không thấy đến, ông liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, rồi bạch với Phật:
- (484a) Bạch Thế Tôn! Vì cớ gì mà các Tỳ-kheo không đến thọ trai?
- Vì ông khinh mạn các Tỳ-kheo, muốn cho ông được lợi ích, Tăng đã làm Yết-ma phú bát đối với ông.
Khi ấy, có một vị La Hán đang ở cách Phật không xa. Phật liền bảo Ưu-bà-tắc:
- Ông hãy đến hỏi vị Tỳ-kheo kia như sau: "Thế nào là muối? Muối có mấy thứ.
Ông liền đi đến, chào:
- Kính chào thầy!
Tỳ-kheo đáp:
- Lành thay cư sĩ.
Thế rồi ông hỏi:
- Thưa Tôn giả! Thế nào gọi là muối? Muối có mấy loại?
- Tôi đã biết ông là Ưu-bà-tắc Pháp Dự, vốn khinh mạn các Tỳ-kheo, nên Tăng đã cho ông pháp Yết-ma phú bát, chưa đủ rồi sao? Tôi đang ở đây an lạc ông lại đến đây não loạn tôi. Muối chính là muối (còn hỏi gì nữa)?
Nghe Tỳ-kheo trả lời như thế, lòng ông cảm thấy chán nản, liền đi đến chỗ Phật. Phật biết mà vẫn hỏi:
- Ông hỏi về nghĩa lý của muối có được toại ý không?
- Bạch Thế Tôn! Vị Tỳ-kheo ấy ít biết, chưa từng theo thầy để học, con hỏi muối thì đáp là muối.
Lúc ấy, cách Phật không xa, có một Tỳ-kheo pháp sư tên Phất-hy-lô, Phật liền bảo Pháp Dự:
- Ông hãy đến hỏi vị Tỳ-kheo kia về nghĩa của muối xem sao!
Thế là ông đến đó, chào:
- Kính chào thầy!
- Lành thay đàn việt đến đây.
Đoạn, thầy mời ông ngồi. Tuy chưa hỏi nghĩa nhưng nghe thầy mời ngồi, ông đã thấy rất hoan hỷ, liền đến ghế ngồi, rồi hỏi:
- Thưa Tôn giả! Muối có ý nghĩ gì?
- Đó là câu hỏi rất hay. Nay tôi sẽ giải thích về ý nghĩa của muối cho ông rõ. Muối có hai phương diện: Vị và Tánh. Vị tức là như nước biển cùng một vị mặn. Tánh thì gồm có: muối đen, muối đỏ, muối tân đầu, muối vị bạt già, muối tỳ lãm, muối ca già, muối tư đa, muối tỉ ca. Nói tóm lược thì có hai loại, hoặc sống, hoặc được nấu chín; đó gọi là muối.
Nghe xong, lòng vui mừng khấp khởi, liền đi đến chỗ Phật cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, bạch với Phật:
- Bạch Thế Tôn! Vị Tỳ-kheo ấy giải thích rất thấu đáo, phân biệt rành mạch, nói nghĩa lý của muối rộng hẹp, ngược xuôi đều thông thạo.
- Đó là kẻ phàm phu, chưa hưởng được pháp vị trong giáo pháp của Ta; còn vị Tỳ-kheo trước là A-la-hán, nhưng vì ông kiêu mạn nên không biết được chân ngụy, sẽ mãi mãi làm những việc vô ích.
Pháp Dự nghe Phật nói như thế tâm sinh hoảng sợ, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Nay con xin sám hối, kính mong Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo từ nay về sau, trở lại nhận sự cúng dường của con như trước.
- Ông hãy trở về nhà tắm rửa, mặc y phục mới, rồi cùng với quyến thuộc đi đến giữa chúng Tăng xin Tăng xả pháp Yết-ma phú bát, Tăng sẽ xả cho ông.
Vâng lời Phật dạy, Pháp Dự trở về nhà tắm rửa, mặc y phục mới, rồi đi đến giữa Tăng quì gối, chắp tay, nói như sau:
- Xin đại đức Tăng (484b) ghi nhớ cho! Con là Ưu-bà-tắc Pháp Dự, khinh mạn Tỳ-kheo Tăng; vì muốn cho con được lợi ích, Tăng đã làm pháp Yết-ma phú bát. Nay con đã thấy lỗi, tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến. Kính mong Tăng thương xót xả pháp Yết-ma phú bát cho con. (xin như vậy ba lần).
Thế rồi, Tăng nên đem Pháp Dự đến đứng ở chỗ mắt thấy mà tai không nghe trong phạm vi cương giới, rồi Tăng hiện tiền làm Yết-ma đối với vị đồ chúng không hiện tiền. Người làm Yết-ma nên nói như sau:
- Xin đại đức Tăng lắng nghe! Ưu-bà-tắc Pháp Dự này khinh mạn Tỳ-kheo Tăng, vì muốn cho ông ta được lợi ích, trước đây Tăng đã làm Yết-ma phú bát. Ngày nay ông đã thấy lỗi, tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến, theo Tăng xin xả pháp Yết-ma phú bát. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng xả pháp Yết-ma phú bát cho Ưu-bà-tắc Pháp Dự. Đây là lời tác bạch.