Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 692.

Chương 105: Chương III: Bối Cảnh Lịch Sử Từ Giữa Thế Kỷ XX Đến Nay. Tiết 1 : Phần Khái Quát (Trang 363 - 368)

Chương III
Bối cảnh lịch sử từ giữa thế kỷ XX đến nay
Tiết 1 :
Phần khái quát

Phật giáo Việt Nam từ xưa, vốn đã cổ súy tinh thần độc lập dân tộc. Nay, thời độc lập đã đến, tinh thần dân tộc đang dâng cao, Phật giáo Thuận Hố đã cùng với Phật giáo tồn quốc hăng hái tham gia vào việc thống nhất Phật giáo trong cả 3 miền ngay. Ý nguyện đó đã được thực hiện tại ngôi chùa lịch sử Từ Đàm, Huế.
Trong Nam, Hội Phật học Nam Việt thành lập do một nghị định của Phủ Thủ hiến Nam Việt thời đó ký vào ngày 19-9-1950. Trong bản tuyên cáo của Hội có câu: “Đề xướng việc lập Hội Phật học này, chúng tôi có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay nhau thành một khối Phật tử quảng đại và thống nhất trên nguyên tắc cũng như trong hành động…”
Ở miền Trung, tại Huế, trên báo Viên Âm ra ngày 16-12-1950 có bài "Hãy bước tới Phật giáo tồn quốc". Mở đầu bài ấy, viết: “Phải bước tới Phật giáo tồn quốc, thống nhất Phật giáo, đấy là nguyện vọng từ lâu, nguyện vọng duy nhất của tồn thể Phật tử xuất gia cũng như tại gia...”
Miền Bắc, không thấy lời tuyên bố gì, nhưng đã có hành động gây cảm xúc, biểu thị ước mơ thống nhất Phật giáo tồn quốc được thể hiện ngay. Đó là việc Hội Phật giáo Tăng-già Bắc Việt cử Hồ thượng Tố Liên đi dự Hội nghị Phật giáo thế giới vào tháng 5 năm

1950 tại Colombo, Hồ thượng Tố Liên đã thay mặt Phật giáo Việt Nam để bỏ phiếu chấp nhận bản Điều lệ của Hội nghị và bỏ phiếu chấp nhận lá cờ năm màu là cờ Phật giáo quốc tế. Hai mươi sáu nước và vùng lãnh thổ có đại diện đến dự Hội nghị World Fellowship of Buddhists[1] trở thành 26 trung tâm địa phương. Trở về Hà Nội, Hồ thượng Tố Liên đã lập Trung Tâm Địa Phương Việt Nam của W.F.B tại chùa Quán Sứ và treo cờ năm màu của Phật giáo quốc tế tại đây.
Theo lời hiệu triệu của các vị Trưởng lão Hòa thượng của ba phần đất nước, một Hội nghị Phật giáo tồn quốc gồm 51 đại biểu của sáu tập đồn đã họp tại ngôi chùa lịch sử Từ Đàm Thuận Hóa để thống nhất Phật giáo. Mỗi đồn có một vị Hòa thượng làm trưởng đồn và một vị Thượng tọa làm phát ngôn viên. Miền Bắc, Hòa thượng Mật Ứng và Thượng tọa Trí Hải; miền Trung, Hòa thượng Tịnh Khiết và Thượng tọa Trí Quang; miền Nam, Hòa thượng Đạt Thanh và Thượng tọa Thiện Hòa. Tại Huế có 300 vị đến dự thính gồm có các vị Tăng-già trong Sơn môn Thừa Thiên và đạo hữu các Khuôn hội. Sau năm ngày làm việc, Hội nghị đã đồng thanh quyết nghị thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam năm 1951.
Từ thời Gia Long (1802 - 1819) thì chỉ mới có vài ông cha cố len vào việc triều chính; nhưng càng về sau, kể từ khi thất thủ Kinh đô (1885), thế lực truyền giáo và thế lực thực dân quyện vào nhau lấn vào truyền thống Việt Nam.
 

[1] Đó là các phái đoàn của: Ceylon, India, Birmani, Thailand, Laos, Cambodia, Việt Nam, China, Hongkong, Japon, Tibet, Corea, Népal, Bhutansikkim, Philippines, New-Caledonia, Malaysia, Nam dương, France, England, Germany, Sweden, Norway, U.S.A, Hawaii.
 

       Năm 1950, Cựu Hồng Bảo Đại đã ký nhiều hiệp định với thế lực cũ đã từng dày xéo đất nước Việt Nam, trong đó có Dụ số 10 ký vào ngày 06-8-1950 trên một chiếc tàu của thực dân Pháp cắm neo tại vịnh Hạ Long, trong Dụ đó, Phật giáo bị đặt ngang hàng một hiệp hội.
 Năm 1954, ngoại bang chủ trương đưa ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại. Đến năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm truất phế, và ông tự đưa mình lên ngôi vị nguyên thủ kiêm cả chức Quốc trưởng và chức Thủ tướng làm một dưới danh hiệu là Tổng thống.
Tồn bộ thế lực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa miền Nam Việt Nam lọt vào quỹ đạo "gia đình trị" của Ngô Đình Diệm, mà đường lối chính yếu của chế độ này là vâng lệnh ngoại bang để Thiên chúa giáo hóa tồn miền Nam Việt Nam; xóa bỏ văn hóa, tôn giáo, phong tục, tập quán truyền thống Việt tộc lâu đời của hai mươi mấy triệu người thuộc miền Nam nước Việt Nam. Nhất là ông Giám mục Ngô Đình Thục, vì tham vọng cá nhân quá mạnh về “tấm áo đỏ Hồng Y Giáo Chủ”, để dễ bề thực hiện đường lối nói trên; ông đã “không thể chấp nhận các phố xá của chốn Cố đô biến thành một rừng đèn và cờ Phật giáo” trong ngày lễ Phật Đản. Ông đã dùng áp lực đối với bào đệ của ông là Ngô Đình Diệm đang làm Tổng thống, ra lệnh buộc nhân dân tín đồ Phật giáo Thành phố Huế phải hạ cờ Phật giáo xuống, không được treo trong ngày lễ Phật Đản?!...
Việc làm này đã buộc tín đồ Phật giáo phải vận động đấu tranh để giữ tôn giáo tín ngưỡng và văn hố truyền thống của dân tộc, dù có hy sinh đến mức độ nào. Bởi vậy mà sự mất mát thực vô biên. Không kể lại hàng ngàn tín đồ Phật giáo đã bị gia đình ông Ngô Đình Diệm giết chết trong bóng tối. Chỉ nói từ lúc ông Đặng Sĩ 
đàn áp ở Đài Phát thanh Huế vào tối Phật Đản 08-5-1963 làm mất mạng 9 thiếu niên và 4 người bị thương nặng, 142 người dân ở Huế bị thương tật suốt đời do lựu đạn a-xít gây ra trong các cuộc đàn áp từ 30-5 đến 30.10.1963, thì về phía Tăng-già, báo World Buddhism đã tổng kết: "Đã có bảy nhà Sư, kể cả một Ni cô, tự thiêu để bảo vệ Phật pháp, trong cuộc vận động xảy ra từ ngày Phật Đản 07-5-1963(1) đến ngày 30-10-1963.” Những vị Thánh tử đạo này (nguyên văn: "These martyrs"), hiện được thờ trong các chùa và Niệm Phật Đường khắp miền Nam Việt Nam. Các vị Thánh tử đạo nguyên quán ở Thuận Hố:
1. Đại đức Thích Thanh Tuệ, sinh năm 1945, chánh quán xã Ba Khê, Hải Lăng, Quảng Trị. Song thân là ông Bùi Du, và bà Hồng Thị Phúc. Xuất gia cầu Pháp tại chùa Phước Duyên thuộc xã Hương Long Huế vào năm 1960. Để tranh đấu cho Thông cáo chung, Đại đức đã phát nguyện tự thiêu ở chùa Phước Duyên, Huế vào lúc 02 giờ sáng, 13-8-1963. Lúc này Đại đức được 18 tuổi đời.
2. Ni cô Thích Nữ Diệu Quang, tự thiêu tại Ninh Hòa vào ngày 15-8-1963, gần một ngôi chùa làng. Thế danh là Ngô Thị Thu Minh, tự Minh Nguyệt. Sinh năm 1936 trong một gia đình trung lưu tại làng Phú Cát, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ là ông Ngô Đình Hòa, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Nghĩa. Khi còn nhỏ, Ni cô thường được song thân dẫn lên chùa lễ Phật. Sau khi đỗ bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp; Cô đã trúng tuyển khóa Sư phạm đầu tiên tại Nha Trang. Sau một thời gian đi dạy học, Cô đã xin thôi, không đi dạy nữa, và xuất gia cầu Pháp với Ni sư Diệu Hoa tại Ni Viện Vạn Thạnh Nha Trang.
3. Hồ thượng Thích Thiện Huệ (tức Hồ thượng Tiêu Diêu), sinh năm 1892 tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Thừa Thiên.
 

(1) Thực ra là vào lúc 22 giờ 20 đêm 08-5-1963. (lời chú của soạn giả)
 

Thế danh là Đồn Mễ, sinh trưởng trong một gia đình có chức sắc trong làng; người là vị bán thế xuất gia, đầu sư với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân năm 1930 thuộc làng Dương Xuân Thượng nay là xã Thủy Xuân thành phố Huế. Người là một nhà tu khổ hạnh, rất giàu lòng bác ái. Hồ thượng đã phát nguyện tự thiêu vào lúc 4 giờ sáng ngày 16.8.1963(1) tại chùa Từ Đàm Huế, là nơi mà hàng ngàn Tăng, Ni và tín đồ Phật giáo đã vân tập để đấu tranh và ra Tuyên Ngôn để đòi hỏi Năm Nguyện Vọng, khởi đầu cho cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo ở Huế để đòi quyền bình đẳng, tự do cho tôn giáo.
Chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ vào ngày 02-11-1963 thì tín đồ Phật giáo miền Nam Việt nam, nói chung là tồn thể mấy chục triệu dân kể từ Huế vào tận mũi Cà Mau, tưởng là đã thốt được cái ách nạn lạ kỳ chưa từng thấy trong lịch sử ấy rồi ! Nhưng !... nhưng chỉ sau có ba tháng, vào ngày 30-01-1964, Tướng Nguyễn Khánh làm cuộc đảo chánh gọi là “cuộc chỉnh lý 30-01”. Núp dưới các danh từ mị dân, Trung tướng Nguyễn Khánh lần lượt phục hồi địa vị, chức tước và quyền hành cho dư đảng Cần Lao. Chung qui, vẫn là làm tay sai cho ngoại bang, và thi hành chính sách độc tài, quân phiệt, Cần Lao; để vẫn tiếp tục chính sách kỳ thị đối với Phật giáo. Tín đồ Phật giáo Huế và dân Huế vẫn phải tiếp tục đấu tranh quyết liệt hơn.
Giai đoạn đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo lần này cũng vô cùng gian khổ, sự hy sinh mất mát của Phật giáo Huế nói riêng, tồn miền Nam Việt Nam nói chung, đã không kém giai đoạn 1963 đối với chế độ Thiên chúa giáo Ngô Đình Diệm. Bởi vì đây vẫn là chế độ tàn bạo của Cần Lao “Diệm không có Diệm”; cho nên vẫn có sự “vị Pháp thiêu thân”; Phật tử vẫn bị bắt bớ, bị tù đày, bị tra tấn rất dã man !
 

(1) Theo "Bạch thư ca khúc” - xuất bản 1964.

Ngày 29-5-1966, tại sân chùa Diệu Đế, ngay trước điện Phật, Tỳ-kheo Ni Thích Nữ Thanh Quang đã thiêu thân cúng dường chư Phật, hồi hướng cầu chư Phật mười phương phóng quang soi sáng lương tri của người Mỹ xâm lược và tập đồn tay sai Nguyễn Văn Thiệu sớm chấm dứt chính sách phá Phật hại dân của họ.
Thành phố Huế hồn tồn tê liệt; nhưng rồi cuộc đấu tranh vẫn bị đàn áp dã man, và “Cần Lao Nguyễn Văn Thiệu” tự đưa mình lên làm Tổng thống, và thực hiện chính sách của “Diệm không có Diệm” cho đến ngày 30 – 4 - 1975.
 
 
*

/193
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »