
Hoà thượng Tịnh Hạnh (1889 – 1933)
Chùa Tường Vân – Huế
Hòa thượng thế danh là Nguyễn văn Cung, sinh tháng 6 năm Kỷ Sửu (1889) vào triều Thành Thái nguyên niên, ở làng Dưỡng Mong thượng, Tổng Ngọc Anh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ là cụ ông Nguyễn văn Toán, Pháp danh Trừng Qui, tự Thiện Toán, hiệu Tịnh Căn, cụ bà là Tôn nữ Phước Lý, Pháp danh Trừng Tế, hiệu Diên Long. Ngài sinh ra trong một gia đình mang cốt cách Nho giáo ở phía Nam kinh thành Huế, nơi đây phong cảnh làng quê hữu tình. Sau sông, chung quang là ruộng lúa. Cả làng dân tình hiền hòa. Song thân đều một lòng tin kính Tam bảo. Nhà có em ruột là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết – Tăng thống Giáo hội (thế danh là Nguyễn văn Kính). Ngài và em được cha mẹ chiều theo ý nguyện của con, cho xuất gia ở tuổi thiếu niên tại chùa Tường Vân, thờ Hòa thượng Thanh Thái làm thầy. Năm đó Ngài vừa tròn 16 tuổi. Tám năm sau, Thiền sư Vĩnh Gia mở Đại giới đàn ở chùa Phước Lâm, Quảng Nam, Ngài được thọ Cụ túc giới
(1910) là lúc Ngài được 21 tuổi và được Hòa thượng Bổn sư ban cho Pháp danh Trừng Hương, tự Thiền Duyệt, hiệu Tịnh Hạnh. Bốn năm sau khi thọ Cụ túc giới (tức là 1914), lúc này Ngài được 25 tuổi đời được Bổn sư phú Pháp với bài kệ sau:
法傳清教道心堅
明訓相承一念專
一點眞如明法性
水澄珠現在人前
Phiên âm:
Pháp truyền thanh giáo đạo tâm kiên
Minh huấn tương thừa nhất niệm chuyên
Nhất điểm chơn như minh pháp tíùnh
Thủy trừng châu hiện tại nhân tiền.
Nguyên Hồng dịch:
Nối truyền giáo pháp đạo tâm kiên,
Ghi khắc lời này dạ phải chuyên.
Một điểm chân như ngời pháp tính,
Nước trong châu ngọc hiện y nguyên.
Sau đó, Ngài ra chùa Thiên Hưng theo học lớp Phật pháp do Thiền sư Huệ Pháp mở tại đây. Vào năm Khải Định thứ 5, Thiền sư Phước Chỉ viên tịch, Ngài được tông môn công cử làm tọa chủ Tổ đình Tường Vân. Ngài cũng thường tới chùa Tây Thiên và Trúc Lâm để nghe Thiền sư Phước Huệ ở chùa Thập Tháp ra giảng.
Năm 1932, Ngài được Hội An Nam Phật học cung thỉnh vào Ban Chứng minh đại Đạo sư cho Hội An Nam Phật học tại Huế cùng với các Đại lão Hòa thượng Phước Huệ, Hòa thượng Giác Tiên, Hòa thượng Giác Nhiên và Hòa thượng Tịnh Khiết…
Do cuộc sống kham khổ, công việc Phật sự đa đoan, sức khỏe của Ngài giảm sút nhanh chóng và Ngài đã thu thần thị tịch vào lúc 4 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Sửu (13.10.1933), hưởng dương 45 tuổi, 25 hạ lạp.
Truy điệu
1
Được tin Hòa thượng viên tịch, ông Chánh Hội trưởng hội Phật học liền thông báo cho Ban Trị sự và các hội viên ở Huế, ở các tỉnh đều hay.
Năm giờ rưỡi chiều ngày ấy, Ban Trị sự đều đủ mặt tại chùa Tường Vân để dự lễ “Nhập quan”.
Tối mồng một tháng chín (19.10.1933), Hội làm lễ kỳ siêu cho Đại sư tại Hội quán (chùa Từ Quang). Hội viên ở Huế và các Ngài Chứng minh Đạo sư tới dự lễ đông đủ.
Đúng chín giờ, ngài Tăng Cang chùa Báo Quốc niêm hương, có các Ngài hộ niệm như ngài Trụ trì chùa Quốc Ân, Trúc Lâm, Túy ba, Linh Quang, Vạn Phúc, Từ Quang, Phước Huệ v.v..
Khi các ngài Đạo sư niệm Phật thời các Hội viên cũng ngồi hai hàng niệm Phật theo. Lễ nghi tuy đơn giản mà rất thành kính, hôïi chúng đều cảm phục cái thịnh tình của Hội đối với một vị Chứng minh Đạo sư.
Còn Hội viên ở các tỉnh, được Hội tin trước, chín giờ tối hôm ấy cũng đều một lần thành tâm niệm Phật.
Lễ cầu siêu xong, ông Chánh Hội trưởng giảng lược qua tiểu sử của Đại sư cho công chúng nghe. Hội chúng đều cảm động.
Hai giờ chiều ngày mồng bốn tháng chín (22.10.1933), Hội tới
chùa Tường Vân đi lễ điếu (một bức trướng thêu bốn chữ “A-di-đà Phật” và đèn hương).
Đến ngày rằm tháng chín (2.11.1933) là ngày chùa làm lễ tống chung Đại sư:
Bảy giờ sớm, chư Sơn và Bổn đạo làm lễ “điện” rất oai nghiêm.
Tám giờ triệt linh sàng rồi, thời đánh chuông trống Bát-nhã, âm công vào nghinh quan tài ra đặt trên bàn linh dư.
Chín giờ rưỡi thì khởi hành. Trước hết có người gánh hương án, trên treo bức nghi “A-di-đà Phật” của Hội; kế đến nhiều người cầm trướng, liễn điếu của Sơn môn và Bổn đạo.
2
Các câu đối điếu nhiều lắm, không thể đăng hết, xin lược một ít câu đáng nhớ:
1. Câu đối của thầy Trú trì Trúc Lâm, Tây Thiên, Từ Quang, Vạn Phước.
涅槃眞究竟方能撒手人寰十餘年大轉法輪從今去向光明國
色相本來空只合栖心凈土三千界布微塵網讓我遊於自在天
Niết-bàn chơn cứu kỉnh, phương năng tán thủ nhơn-hoàn, thập dư niên đại chuyển Pháp-luân, tùng kim khứ hướng quang minh quốc.
Sắc tướng bản lai không, chỉ hiệp thê tâm tịnh-độ, tam thiên giới bổ vi-trần võng, nhượng ngã du ư tự tại thiên.
Dịch Nghĩa:
Niết bàn đã chứng, giải thoát giữa nhơn hoàn, mười mấy năm xe Pháp xoay tròn, nay mới thẳng đường về cực lạc.
Sắc tướng vẫn không, nhựt dụng trong Tịnh-độ, ba ngàn cõi lưới trần bủa khắp, riêng ai vui thú cảnh chơn như.
2. Câu đối của hội viên hội Phật học:
一切功德發意圓成遂令示病化緣法會轟然驚柱折
諸佛慈悲深心信樂况是往生有願蓮池際此喜花開
Nhứt thiết công đức phát ý viên thành, toại linh thị bệnh hoá duyên, pháp hội oanh nhiên kinh trụ chiết.
Chư Phật từ bi thâm tâm tín nhạo, huống thị vãng sanh hữu nguyện, liên trì tế thử hỷ hoa khai.
Dịch nghĩa:
Quyết vuông tròn công đức mọi người, rồi ta thị bệnh hoá duyên, cột ngã gãy vang nhà Pháp hội.
Đã tín ngưỡi từ bi chư Phật, huống nữa vãng sanh sẵn nguyện, hoa vàng nở chói cảnh liên trì.
3. Câu đối Tăng chúng và bổn đạo chùa Tây Thiên:
六塵迷網東土纏綿方便應機示滅誰知仍不滅
諸佛茲光西方接引因緣如是往生法爾即無生
Lục trần mê võng, Đông độ triền miên, phương tiện ứng cơ, thị diệt thuỳ tri nhưng bất diệt.
Chư Phật từ quang, Tây phương tiếp dẫn, nhơn duyên như thị, vãng sanh pháp nhĩ tức vô sanh.
Dịch nghĩa:
Ai còn lưới nghiệp vấn vương, lấy giả làm chơn, thị diệt ngờ đâu là chẳng diệt.
Thầy được thuyền từ tiếp độ, đã nhơn thì quả, vãng sanh xét lại vẫn không sanh.
4. Câu đối Quốc văn của Thầy Thích Chánh Huy.
Sắc tướng vẫn không, nào chùa nào điện, nào Bình bát Ca-sa, bốn mươi lăm năm dày dặc chốn Diêm phù, quả thấu nhơn tròn, nhờ Phật thảnh thơi miền Lạc quốc;
Nhơn duyên phải có, ấy cảnh ấy tình, ấy nhân sanh vũ trụ, mấy muôn ức triệu bôn ba đường vật dục, sống say chết ngủ, đâu ai dan díu lưới trần lung.
3
Sau đó, ông Chánh Hội trưởng thay mặt Hội đọc bài Vãn văn :
Tôi xin thay mặt cho Phật học Hội kính tỏ cùng thầy Tịnh Hạnh Đại sư, Chứng minh Đạo sư Hội chúng tôi đây, vài lời vĩnh quyết, và tạ công đức thầy mấy lâu nay đã gánh vác cùng Hội chúng tôi cái trách nhiệm hoằng dương Phật pháp.
Thưa Thầy! Mấy tháng trước thầy tới lui cùng Hội chúng tôi, Pháp ngữ còn văng vẳng bên tai, tôi dè đâu mà ngày hôm nay phải chịu uỷ thác một chức trách đau đớn như vậy. Nhưng Phật học Hội đã uỷ thác cho tôi chắc không muốn tôi dệt lời bi thiết mà khóc Thầy.
Ôi! Bi thiết mà làm chi! Các ngài ở đây thương thầy, tiếc thầy, khóc thầy đã nhiều rồi còn bi thiết làm chi nữa cho thêm đau lòng xót dạ. Hay là nên tán tụng thầy chăng? Ôi! Tán tụng làm chi! Công hạnh thầy ai lại chẳng biết, khen chi nhiều lời, làm cho lòng khiêm nhượng thầy thêm ái ngại.
Phật học hội chúng tôi mục đích là hoằng dương Phật pháp, chí nguyện thầy chúng tôi đây cũng là hoằng dương Phật pháp, trước
cho khỏi phụ bản nguyện của thầy, sau cho khỏi trái với mục đích của Hội, và tôi xin phép lược qua sự tích của thầy không nói đến.
Tôi nói như vậy, chẳng phải là vì sự tích thầy không đủ làm gương tốt cho đời sau đây.
Nói về thề hệ thì song thân thầy rất sùng thượng đạo Phật, trong nhà thờ đức Quán Âm, hết sức thành kính. Trước khi sanh thầy, thì song thân thầy đã có sáu người con trai, mà trong một vài năm, phải bỏ hết năm người. Bà thân thầy đau đớn vô cùng, tự biết nghiệp mình nặng nề, nên thường vái lạy đức Quán Âm, cầu ngài cứu độ. Một buổi trưa, bà thân thầy thấy một ông già ghé xin nước, khí vũ khác thường lắm, nên bà mời vào nhà đãi nước một cách cung kính. Ông già hỏi chuyện nhà một lát, rồi nói với bà rằng: “thôi bà đừng buồn bã làm chi, ít năm nữa bà cũng hạ sanh được hai người con phước báu, về sau hai ông bà cũng được vui lòng. Bà chỉ được hai người con ấy thôi, chớ người con còn lại bây giờ e cũng không thọ”. Ông già nói như vậy rồi bỏ đi, bà thân thầy lấy làm lạ chạy theo nom thời đã không thấy dạng nữa. Quả thiệt, về sau người con còn lại cũng mất. Cách đó hai năm, bà sanh được hai người con trai, chính là thầy Chứng minh đây và em là Thầy Phúc Huệ.[1]
Thầy Chứng minh Đạo sư hội chúng tôi đây, sanh năm Kỷ Sửu, năm nay được 45 tuổi. Khi 16 tuổi đã xuất gia chịu thế độ với ngài Kiết-ma chùa Tường Vân trước. Ngài Kiết-ma tu Tịnh độ rất tinh tấn, đến khi lâm chung biết trước hơn mấy ngày, niệm Phật mà toạ hoá.
Thầy Chứng minh năm 24 tuổi, thọ Cụ túc giới ở trường Kỳ Phúc Lâm tỉnh Quảng Nam, Ngài Hòa thượng Phúc Lâm đó chính là một vị Đại tăng đã nổi tiếng trong Sơn môn. Năm 28 tuổi, Ngài
[1] Tức Hòa thượng Tịnh Khiết, Pháp đệ, Trú trì chùa Phúc Huệ.
giáo thọ chùa Thiên Hưng, một vị Cao tăng ở Huế, mở trường giảng kinh, Thầy theo học hơn mấy năm, đã tinh thông giáo lý đạo Phật. Trong khi ấy song thân thầy tạ thế. Nguyên song thân thầy đã sẵn tín tâm, lại nhờ thầy chỉ vẻ thêm phép tu Tịnh độ, nên lúc về già tu tập ngày thêm tinh tấn. Khi thầy đang học ở Thiên Hưng, bà mẹ thầy đau sơ ít ngày, rồi tạ thế một cách hết sức tỉnh táo. Bà thân thầy vừa mất, ông thần thầy biểu hai anh em sửa soạn thi hài tề chỉnh rồi lại đỡ ông dậy; khi đỡ dậy, ông biểu niệm Phật rồi ông cũng mất luôn một lượt (…)
*