Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 692.

Chương 174: Nguyễn Phúc Tuyền (Vua Thiệu Trị) (1807 – 1847) (Trang 636 - 644)

Nguyễn Phúc Tuyền (Vua Thiệu Trị) (1807 – 1847)
   Hiển tổ Chương Hồng đế húy Nguyễn Phúc Tuyền (Miên Tông), con trưởng của Hồng đế Nguyễn Phúc Kiểu và Hồng hậu Hồ Thị Hoa, sinh ngày 11 tháng 5 năm Đinh mão (16.6.1807) tại ấp Xuân Lộc, phía đông kinh thành Huế.
Ngày 20 tháng giêng năm Tân sửu (11.2.1841) lên ngôi đặt niên hiệu là Thiệu Trị. Vua trị vì được 7 năm, mất ngày 27 tháng 9 năm Đinh mùi (4.10.1847) thọ 41 tuổi.
Trong số bốn vị vua đầu triều Nguyễn (1802 – 1883) vua Thiệu Trị (1807 – 1847) là người mộ Phật nhất. Sách “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” tập 2 của Giáo sư Nguyễn Lang cho biết : “Năm 1844, vua Thiệu Trị, theo di chúc của vua Minh Mạng sắc dựng một ngôi tháp lớn bảy tầng ở chùa Thiên Mụ gọi là Từ Nhân tháp. Cũng trong năm này, vua sắc dựng chùa Diệu Đế”. (sđd, Nhà Xuất bản Văn học, H, 1992, tr.306).

Ngồi sự hỗ trợ cho công việc hoằng dương Phật giáo, nhà vua cũng chứng tỏ mình là người ham thích Văn học. Theo Giáo sư Dương Quảng Hàm, tác phẩm chữ Hán của vua Thiệu Trị gồm có : “Ngự Chế Danh Thắng Đồ Hội Thi Tập” (tập vịnh các phong cảnh đẹp), “Ngự Chế Bắc Tuần Thi Tập” (tập thơ vịnh việc đi tuần du ở Bắc kỳ), “Ngự Chế Vũ Công Thi Tập” (tập thơ vịnh Công đánh đẹp)… (Việt Nam Văn học Sử yếu, bản in 1986, S, tr. 357).
Một điểm đáng chú ý là nhà vua đã bỏ nhiều công sức để phân hạng và đề vịnh thơ hai mươi thắng cảnh tiêu biểu của đất Thần kinh, trong số đó có đến ba thắng cảnh là danh lam : Vân Sơn thắng tích, Thiên Mụ chung thinh và Giác Hồng Phạn ngữ. Qua nội dung của ba bài thơ đề vịnh, chúng ta nhận thấy đây không chỉ là sự ca ngợi cảnh đẹp mà còn thể hiện tấm lòng cùng kiến giải của nhà vua đối với Phật học nữa.
1. Vân Sơn thắng tích :
“Tích thúy tồn ngoan bất kế xuân
Đẩu long ẩn phục liệt lân tuần
Huệ phong chung độ u lâm hưởng
Không cốc hương la pháp hải tân
Thọ luyến từ đàm phù bích lạc
Kỉnh xuyên tăng kịch tạp hồng trần
Thánh duyên phổ tế hàm quy thiện
Phật tích tăng quang tự hữu nhân”.
Dịch nghĩa :
Cảnh đẹp núi Túy Vân
(Xanh yêm cao vọi không biết có từ đời nào
Những còn rồng rắn ẩn nấp trong chổ sâu thẳm
Gió đưa tiếng chuông vang trong rừng rậm
Mùi hương của hoa trong hang trống bay ra đến bờ biển
Cây cối quyến luyến mây lành đứng giữa thiên không
Guốc của sư Tăng đi trong kỉnh lộ lộn với hồng trần
Thánh duyên phổ độ cho chúng sanh đề đi về đường thiện
Phật tích nơi nơi đây càng thêm quang minh là có nguyên nhân).
(Dẫn trong Đất Việt trời Nam của Thái Văn Kiểm,
Nhà Xuất bản Nguồn Sống, S, 1960, trang 352 – 353).
Dịch thơ :
“Vời vọi cao xanh với tháng ngày
Rồng thiêng ẩn nấp dấu quanh đây
Rừng vẳng chuông vang theo sức gió
Hang thông hương đượm mãi xa bay.
Cây quyến mây lành thêm bóng mát
Bụi trần vương vết bóng sư thầy
Độ khắp chúng sanh về nẻo thiện
Quang minh Phật tích mọi nhà hay”.
                                                (ĐN dịch)
Cũng theo sách “Đất Việt trời Nam” thì “Túy vân sơn ở phía Đông Bắc huyện Phú Lộc 20 dặm, phía Tây gối vịnh biển Hà Trung, tên cũ gọi là Mỹ Am sơn, năm Minh Mạng thứ sáu (1825) cho tên là Túy Hoa sơn, năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) đổi lại là Túy Vân sơn, có bi ký Túy Vân thắng tích”. (Sđd trang 361).
Nhìn chung, bút pháp theo hướng chấm phá của Đường thi nhưng bài thơ vẫn khắc họa được những nét chính của đối tượng. Hai câu đầu là cảnh quan của ngọn núi, bốn câu giữa là những điểm đáng ghi nhận của cảnh chùa, hàm ý ca ngợi – Ý thơ trong câu thứ sáu : “Kỉnh xuyên tăng kịch tạp hồng trần” là một ý mới và hay, có thể gợi lên tính chất vừa xuất thế mà lại nhập thế của Phật giáo cùng tính chất sống ở cõi trần mà không bị nhiễm trần của các
vị chân tu. Hai câu cuối là cảm nghĩ của tác giả về cảnh chùa, về đạo Phật, nhìn ở bình diện nhân sinh. Câu “Thánh duyên phổ tế hàm quy thiện” khiến chúng ta nhớ tới câu : “tùy duyên công đức đẳng hà sa” trong bài “Độc Phật kinh hữu cảm” của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) (xem Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, thế kỷ X – XVII, nhà Xuất bản Văn học, H, 1976, trang 670 – 671).
2. Thiên Mụ chung thanh :
“Cao cương cổ sát trấn tiền xuyên
Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên
Bách nhị hồng thanh tiêu bách kiết
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên
Tằng hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
Phật tích thánh công thùy hải vũ
Thiện nhân phước quả phổ cai diên”.
Dịch nghĩa:
Tiếng chuông chùa Thiên Mụ
Trên gò cao, có chùa xưa trấn ngay trước sông
Nguyệt tướng thường tròn, an nhàn thảng thích
Trăm lẻ hai tiếng lớn tiêu được trăm kiết
Ba ngàn thế giới thức tỉnh được duyên ba sinh
Tiếng chuông ngân nga([1]).giữa giờ ngọ thông cảm cả các giới u minh
Tiếng tụng ề à khi giờ dần có mùi đạo huyền diệu
Phật tích thánh công lưu truyền trên đất nước
Nhân lành quả tốt khắp cõi bờ.
(Thái Văn Kiểm, sđd, trang 355 – 356)
 

[1]   Ông Thái Văn Kiểm dịch là rền rỉ, chúng tôi xin được sửa lại là Ngân nga.
Dịch thơ :
“Bên sông chùa cổ dáng uy linh
Phật diện hào quang ảnh nguyệt minh
Trăm lẻ chuông rền tiêu trăm kiết
Ba ngàn thế giới tỉnh ba sinh
Boong boong khuya sớm thông ba cõi
Bỗng trầm huyền diệu tiếng kệ kinh
Dấu Phật in soi cùng đất nước
Vô biên quả tốt với nhân lành”.
                                                     (ĐN dịch)
Vì chủ đề của bài thơ là tiếng chuông chùa nên chỉ cần một câu đầu đề khái quát về cảnh chùa, còn năm câu tiếp theo là ca ngợi sắc tướng của Phật (thông qua pho tượng Phật) nhấn mạnh tính chất thức tỉnh của tiếng chuông cùng lẽ nhiệm mầu của lời kinh tiếng kệ. So với bài trước, ở đây ta thấy tác giả đã nói tới tam thiên thế giới, ba sinh, trăm kiết u minh, tức là đề cập đến một số các vấn đề then chốt của Phật giáo; thế giới bao la, luân hồi, phiền não, giải thốt, tự do, tha độ… hai câu kết là cái mong ước bình thường của một ông vua mộ Phật về sự gắn bó tốt đẹp giữa Phật giáo và đất nước, dân tộc.
Chùa Thiên Mụ là một trong số ít các danh lam đã tạo được sự liên hệ đậm đà với sinh hoạt văn học cổ điển và hiện đại Chùa cũng được nhiều thế hệ vua chúa – kể từ chúa Nguyễn Hồng – quan tâm đến việc trùng tu, đúc chuông, dựng bia.v.v… đáng chú ý nhất là lần đại trùng tu hết sức quy mô vào năm 1714 thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725). Tuy vậy, vào cuối thế kỷ 18, chùa Thiên Mụ lại lâm vào tình trạng đổ nát, mãi đến năm 1815, thời Gia Long, chùa mới được xây dựng lại. Năm 1716, nhân một chuyến công cán vào Kinh đô Huế, Phan Huy Ích (1751 – 1822) đã đến viếng chùa và ghi lại một vài nét về cảnh điêu tàn ấy như sau :

 

Phỏng Thiên Mụ tự chỉ tác
“Sùng cương áp làng thảo thông thanh
Tịnh giới yên hà thuộc liễu minh
Hòa thượng am không từ địa dị
Như Lai viện cổ trú loan đình
Đài bi tàn triện già hành kính
Bảo khánh di âm nhập cấm đình
Nhị thập niên tiền du lãm xứ
Vãn dương tiều xướng bất kham thinh”.
(Thơ văn Phan Huy Ích, T2, Nhà Xuất bản KHXH, H, 1978, trang 118 – 119)

* dịch thơ :

Thăm nền của chùa Thiên Mụ
“Ngăn sóng, đồi cao cỏ phủ dày
Chùa xưa hoang vắng khói hòa mây
Am Tăng, nền cũ, thành đàn tế
Điện Phật, lối nào, dấu nữa xe
Bia tạc, chữ mờ, rêu phủ kín
Khánh quý tiếng còn giục khách mê
Hai mươi năm trước từng viếng cảnh
Chiều tà, tiều hát, chẳng buồn nghe”.
                                           (ĐN dịch)

3. Giác Hồng Phạn ngữ :

“Phước địa trang nghiêm khởi pháp cung
Chung tường thắng tích đối khung long
Viên linh bảo tướng quang minh ngoại
Diệu đế – Kim cương tưởng tượng trung
Chứng giác vô ngôn, tâm tức Phật
Chỉ quan nhập định, sắc nhi không
Từ nhân phổ bác quần sinh toại
Trì tuệ hoằng thâm vạn loại thông”.

Dịch nghĩa :
Tiếng tụng kinh chùa Giác Hồng
[đất nước dấy lên ngôi chùa Phật trang nghiêm
Thắng tích chung tụ khí lành đối giữa thiên không
Bảo tướng đức Phật viên linh chói sáng ra ngồi
Trí tưởng tượng có Phật pháp diệu đế, Kim Cang ở trong
Tâm tức là Phật, đức Phật mặc nhiên chứng tri
Chỉ quán và nhập định thì muôn vật tuy có hình sắc mà hư không
Đức nhân từ của Phật biến khắp xa rộng, chúng sanh đều an vui cả
Trí tuệ của Phật rộng sâu thông suốt muôn lồi].
(Thái Văn Kiểm, sđd, trang 356 – 357)
* Dịch thơ :

“Phước địa trang nghiêm dựng pháp cung
khí lành chung tụ đối không trung
Sắc tướng rạng ngời thường tự tại
Kim Cang, Diệu Đế ẩn tàng trong
Vô biệt, vô ngôn, tâm tức Phật
Ra Thiền, vào quán sắc thị không
Từ bi cứu khổ quần sinh lạc
Chuyển mê khai ngộ thảy viên thông”.
                                                           (ĐN dịch)

Chùa Giác Hồng là một danh lam của Kinh đô Huế: “Chùa ở phường Đoan Hòa trong kinh thành. Ở trước có điện Đại Hùng, sau

điện Đại Bảo, phía tả có Thiền đường, phía hữu có Tĩnh trai, tương truyền chổ này nguyên là đô thành của tiên triều vậy. Niên hiệu Gia Long dùng làm chổ tiềm để của Thánh Tổ nhân Hồng đế, sau Thánh tổ ngự qua cung Thanh Hòa, nhường cho Thiệu Hóa quân vương Chẩn làm công phủ. Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), cải cấp cho con quận vương là Thiện Khuê một biệt sở, lấy chổ này cất chùa (Giác Hồng), bên chùa có giếng gọi là “Thanh phương tỉnh”, nơi giếng có bia đá làm dấu tích. Năm Thiệu Trị thứ ba (1843) Thánh chế 20 bài thơ vịnh 20 cảnh Thần kinh, trong ấy có bài “Giác Hồng Phạn ngữ”, chạm bia dựng đình ở phía tả cửa chùa. Niên hiệu Thành Thái triệt sở chùa, cất viện Cơ Mật vào chổ ấy gọi là Hội Nghị Viện”. (Thái Văn Kiểm, sđd, trang 364 – 365).
Sách “Việt Nam Phật giáo Sử luận” tập 2, mục giới thiệu về Thiền sư Nhất Định (1784 – 1847) người xem như đã khai sơn Tổ đình Từ Hiếu, đã cho biết: “năm 1839 vua Minh Mạng lại thỉnh ông – Thiền sư Nhất Định – làm Tăng cang chùa Giác Hồng. Tính ông ưa vân du nên không thích quản đốc các chùa Quốc tự. Năm 1843, ông xin từ chức Tăng cang chùa Giác Hồng, được vua Thiệu Trị chấp thuận”. (sđd, trang 324).
Trở lại với bài thơ “Giác Hồng Phạn ngữ” thì đây là bài thơ mà vua Thiệu Trị đã hết lời ca ngợi Phật pháp cùng khẳng định trình độ Phật học khá sâu của vị vua trẻ này.
Ngoại trừ hai câu đầu nhấn mạnh về cảnh quan của ngôi chùa – mà đây là ngôi Quốc tự, nên cũng gián tiếp ca ngợi công sức của những người dựng chùa, các câu còn lại của bài thơ đều chuyên chở ý hướng ca tụng Phật pháp : từ sắc thân đức Phật, lẽ nhiệm mầu của kinh điển đến đức từ bi, trí tuệ trong sự nghiệp tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn của ngài, một sự ca ngợi rất tập trung và chính
xác, bởi lẽ đức Phật cũng như Phật pháp luôn được nhấn mạnh ở hai khía cạnh là từ bi và trí tuệ. Hai câu 5 – 6 : “Chứng giác vô ngôn tâm tức Phật, Chỉ quan nhập định sắc nhi không” chứng tỏ tác giả đã có những nghiên cứu và tiếp cận về Thiền học : Chỉ quán, Thiền định là những phương pháp tu thiền, mà vô ngôn, tâm tức Phật là những luận điểm then chốt của Thiền học Đại thừa vậy.
Tóm lại, triều Nguyễn, theo nhận xét của số đông các nhà nghiên cứu, vẫn là thời đại độc thịnh của Nho học. Tuy nhiên, như những người viết lịch sử Phật giáo Việt Nam đã cố gắn khảo dẫn, đạo Phật vẫn chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của nó. Trường hợp mộ Phật của vua Thiệu Trị chính là sự minh chứng cho cái ảnh hưởng của sức sống mãnh liệt ấy.
Đào Nguyên (tập văn BVHTW)
 
*

 
/193
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »