Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 692.

Chương 167: Tiết 2 : Chư Vị Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa. Cư Sĩ Đào Duy Từ (1572 – 1634) Hiệu : Lộc Khê (Trang 610 - 613)

Tiết 2 :
Chư vị Cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận hóa 
Cư sĩ Đào Duy Từ (1572 – 1634)
Hiệu : Lộc Khê

Cư sĩ Đào Duy Từ, sinh năm Nhâm Thân (1572), hiệu là Lộc Khê, quê quán ở xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa. Cha ông tên là Đào Tá Hán, một xướng hát chuyên nghiệp. Mẹ ông là người họ Nguyễn. Cư sĩ thiếu thời là người thông minh, học rộng biết nhiều. Đặc biệt là các môn tượng vĩ thuật số. Vào thời Lê cư sĩ đi thi Hương bị quan Hiếu ty cho Đào Duy Từ là con nhà phường chèo, nên gạch bỏ tên không cho thi. Ông buồn bực quay về.

Bất mãn với sự đối xử bất bình đẳng; lại nghe được Thái tổ chúa Nguyễn ở Đàng Trong yêu dân, chiêu hiền trọng sĩ, hào kiệt quay về quy phục nên cư sĩ quyết định vào Đàng trong.
Cư sĩ được biết ở Quy Nhơn có Tham lý Trần Đức Hồ được Chúa tin dùng, ban đầu cư sĩ vào xin nương nhờ một nhà Phú ông ở xã Tòng Châu thuộc tỉnh Bình Định; do đặc tính thông minh và uyên bác nên mặc dầu là người chăn trâu, nhưng cư sĩ rất tiếng tăm, làm ngạc nhiên các danh sĩ trong vùng; quan Tham lý nghe tiếng đem lòng yêu quý, mời về nhà dạy học và gả con gái cho Đào Duy Từ.
Năm Đinh Mão (1627) quân chúa Nguyễn Phúc Nguyên đánh thắng quân chúa Trịnh ở sông Nhật Lệ. Đức Hồi nghe tin thắng trận, vào mừng, và đem bài thơ “Ngoạ long cương” của Đào Duy Từ dâng lên chúa Nguyễn và nói: Đây là thầy đồ nhà tôi làm ra. Chúa xem, cho là lạ, rồi ra lệnh mời Đào Duy Từ vào yết kiến. Mấy hôm sau, Đào Duy Từ và Trần Đức Hòa cùng vào ra mắt Nguyễn Phúc Nguyên. Duy Từ cao đàm hùng luận, tỏ ra rất am hiểu việc đời. Phúc Nguyên mừng lắm, liền sau đó chúa họp bàn đình thần phong cho Duy Từ làm Nha úy Nội Tán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ở ngồi, tham lý quốc chính.
Đào Duy Từ ngồi các thiên tài về học thức, chính trị, quân sự, cư sĩ còn là một Phật tử thuần thành nên trong thời gian vào Nam hà phục vụ chúa Nguyễn, cư sĩ đi rất nhiều nơi nên có trước tác nhiều tác phẩm mang tư tưởng Phật giáo sâu đậm. Trong tác phẩm “Tư Dung Vãn” Đào Duy Từ đã nói đến các sinh hoạt Phật giáo ở vùng cửa biển Tư Dung như, nói về các ngôi chùa. Về chùa Bà Viên cư sĩ mô tả:
“ ....
            Là nơi tự vũ nghiêm trang,
            Trung trinh hai chữ lửa hương muôn đời.
            Đông Tây đều cách vãng lai,
            Rước ai nọ quán, đưa ai nọ đò.
            Am tu kiệt lập non Vu,
            Đêm khuya chuông dóng gọi chùa Bà Viên.”
Ngồi chùa Bà Viên cư sĩ còn nói đến chùa Thái La, đồng thời nói đến sinh hoạt của Chư Tăng:
Há đạo đâu xa mà nhọc kiếm,
            Bồ-đề kết quả ở lòng ta.
            Thơ thôi vẫy gọi Thiền Tăng,
            Cảnh này thú ấy vui chăng hỡi thầy ?
            Nghêu ngao tắm suối nằm mây,
            Thị phi mặc thế, tháng ngày thung dung.
            Làu làu gương sáng giá trong,
            Vui niềm son đỏ, lánh dòng bạc đen.
            Người đà nên đấng cao thiền,
            Phật dầu chưa hẳn, ắt Tiên đã gần.
Hay:
   “Nghiêm thay tướng Pháp Như Lai,
Cao giơ tuệ kiếm, sáng ngời thủy tinh.
   Thời lành cả mở Hội lành,
Reo đưa gió Phật, quét thanh bụi tà.
   Vầy đồn yến múa oanh ca,
Vượn xanh dâng trái, hạc già nghe kinh.
   Phật đình nào khác vương đình,        
Ngũ vân tán lớn, cảnh tinh thoại tường.”
Và:
                  “Dạo chơi thế giới Ta-bà,
            Sớm vào cửa Thánh, tối ra hang Thần.
                 Ở trần mà chẳng nhiễm trần.”
 
Ngồi ra với truyền thống từ người cha cư sĩ Đào Duy Từ đã truyền lại các điệu múa như múa “Đấu chiến thắng Phật”, các điệu múa này có hai vị thần là Tề Thiên Đại Thánh và Hộ Pháp nên còn gọi là múa “Song Quan” và cư sĩ còn để lại các điệu múa khác mà để rồi về sau trở thành điệu căn bản cho múa lục cúng của Phật giáo Huế.
Tháng 3 năm Canh Ngọ (1630), Đào Duy Từ cùng với Nguyễn Hữu Dật đắp lũy Trường dục từ núi Trường Dục đến phá Hạc Hải chặn quân Trịnh ngược dòng sông Nhật lệ, năm Tân Mùi (1631), lại cho đắp một lũy nữa kiên cố hơn, dài 18 km bắt đầu từ núi Đâu mâu qua cửa biển Nhật lệ tiến lên phía đông bắc đến làng Đông hải. Nhờ có hai cái lũy trên, chúa Nguyễn đã ngăn chặn được các cuộc tiến công của quân Trịnh trong một thời kỳ dài.
Tháng mười năm Giáp Tuất (1634), Đào Duy Từ lâm bệnh nặng rồi mất, thọ 63 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đích thân đến thăm viếng. Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc, cho táng tại Tùng Châu và phong làm "Hiệp đồng mưu đức công thần, đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu". (Đại Nam liệt truyện - Bản dịch của Viện Sử học-Nxb Thuận Hố)
(Trần Đình Sơn, Nxb Trẻ 2001)
 
*

 
/193
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »