Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 692.

Chương 92: Hòa Thượng Giác Tiên (1880 - 1936) Chùa Trúc Lâm – Huế (Trang 318 - 330)

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa  - Tập 1

Hòa thượng Giác Tiên (1880 - 1936)

Chùa Trúc Lâm – Huế

Ngài người họ Nguyễn. Sinh năm Canh Thìn tức năm Tự Đức thứ 33 (1880). Nguyên quán Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Song thân mất sớm.
Năm Giáp Ngọ (1894), Ngài xin xuất gia lúc 15 tuổi tại chùa Từ Hiếu, thờ ngài Tâm Tịnh làm Thầy.
Năm Thành Thái thứ 12, Canh Tý (1900), Ngài thọ Sa-di, lúc đó được 21 tuổi.
Ba năm sau, năm Giáp Thìn (1904), khi Ngài được 24 tuổi, Đại sư Tâm Tịnh nhường chùa Từ Hiếu cho bổn phái để về dựng am Thiếu Lâm, tức là chùa Tây Thiên hiện nay, Ngài được về đây tu theo Bổn sư.
Năm Duy Tân tứ niên, Canh Tuất (1910), Ngài thọ Cụ túc giới với Hòa thượng Vĩnh Gia tại chùa Phước Lâm, Hội An và được chọn làm Thủ chúng trong hàng thọ giới. 

Vào khoảng năm Duy Tân thứ 7, Quý Sửu (1913), Tỳ-kheo-ni, người danh gia vọng tộc họ Hồ, có Pháp danh Thanh Linh, tự Diên Trường vừa dựng xong chùa Trúc Lâm ở Dương Xuân Thượng. Ni trưởng đã đến chùa Thiếu Lâm xin với Đại sư Tâm Tịnh cho thỉnh ngài Giác Tiên về làm vị khai sơn tọa chủ chùa ấy. Từ đó Ngài thâu nạp đồ đệ về Trúc Lâm, mở Đạo tràng giảng kinh.
Năm 37 tuổi, niên hiệu Khải Định năm đầu, Bính Thìn (1916), Ngài được Bổn sư phú Pháp và cho kệ:
                       覺  道  劫  空  先
                       空  空  般  若  禪
                       果  因  浮  行  解
                       處  處  即  安  然.
Phiên âm:        Giác đạo kiếp không tiên             
                        Không không Bát-nhã thiền        
                        Quả nhân phù hạnh giải 
                        Xứ xứ tức an nhiên.         
Trí Không dịch: 
                       Đường giác không kiếp trước
                        Thuyền Bát Nhã chân không
                        Nhân quả hóa hợp giải
                        Ở đâu cũng thung dung.
và đặt cho pháp danh là Trừng Thành, hiệu Chí Thông, tự là Giác Tiên; thế thứ 42 dòng Lâm Tế; thứ  8 của dòng Liễu Quán.
Năm Khải Định thứ 5, Canh Thân (1920), ngài Huệ Pháp mở Đạo tràng giảng kinh ở chùa Thiên Hưng, các khóa giảng thường xuyên được mở ra do chính Hòa thượng Huệ Pháp chủ trì, Ngài đã đem theo đệ tử cùng nhiều vị Tăng khác nhanh chóng tìm đến cầu
học. Nơi đây, sau nhiều tháng ngày theo học, Ngài được Hòa thượng Huệ Pháp khen tặng là người có túc căn thâm hậu, đủ sức xiển dương Phật pháp cho kẻ hậu tấn. Học trò của Ngài đem theo ra học lớp Phật pháp này là các Ngài Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể.
Năm Quý Hợi (1923), Ngài tổ chức Đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu. Tại giới đàn này, đệ tử của Ngài là Mật Khế thọ đại giới, và Bổn sư Ngài là Hòa thượng Tâm Tịnh làm Hòa thượng đàn đầu truyền giới.
Năm Bảo Đại nguyên niên, Bính Dần (1926), Ngài được sắc chỉ chuẩn làm Trú trì chùa Diệu Đế. Năm Kỷ Tị (1929), Ngài mở cuộc trùng tu chùa Trúc Lâm.
Bảo Đại ngũ niên, Canh Ngọ (1930), Ngài vào Bình Định rước Phước Huệ Đại sư ra mở Sơn môn Học đường Trúc Lâm. Từ đó, năm nào Hòa thượng Phước Huệ cũng được thỉnh về Trúc Lâm giảng dạy. Các đệ tử của Ngài như thầy Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiển và Mật Thể đều được theo học và đã đóng góp tích cực trong công cuộc chấn hưng Phật giáo sau này. Đặc biệt, cùng theo học tại Trúc Lâm lúc này có cư sĩ Lê Đình Thám, Y sĩ trưởng tại Viện Pasteur Huế. Cư sĩ Lê Đình Thám đã quy y với Ngài từ năm 1928 được đặt pháp danh là Tâm Minh (chính cư sĩ là người vâng lời Ngài triệu tập các bậc đồng lữ, thành lập hội An Nam Phật Học năm 1932).
Ngài rất chú ý đến việc đào tạo Tăng tài. Nhờ những cố gắng đó mà Ngài đã biến chùa Trúc Lâm thành nơi phát tích nhiều cột trụ của nền Phật giáo cận đại. Tiêu biểu trong số những Tăng sĩ lừng lẫy như: Đôn Hậu, Quảng Huệ, Trí Thủ, Mật Thể, Chánh Thống, Thiện Trí, Thiện Hoa, Thiện Hòa…
Bảo Đại thất niên, Nhâm Thân (1932), Ngài cùng chư vị Đại đức trong Sơn môn và Cư sĩ lập ra An Nam Phật học Hội, cuối năm ấy mở lớp Đại học Sơn môn.
Năm Quý Dậu (1933), năm Bảo Đại thứ 8, Ngài ủy thác cho thầy Mật Khế mở trường Tiểu học Phật học cho Sa di các chùa tại chùa Vạn Phước, trường trực thuộc Hội An Nam Phật học.
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài lại cùng đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật học tại chùa Trúc Lâm, thu nhận năm mươi học Tăng. Cuối năm này, Ngài lại quy tụ được rất nhiều học Tăng có học lực và trình độ khá cao để mở ra cấp Đại học Phật giáo, cũng tại Trúc Lâm.
Giai đoạn này là cao trào chấn hưng Phật giáo ở miền Trung, nhờ vào uy đức của Ngài cùng tài uyên bác của Bác sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám, và sự hưởng ứng nồng nhiệt của các bậc thức giả học Phật như: Ưng Bàng, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Viễn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Ưng Bình, Bửu Bác, Trần Đăng Khoa, Lê Thanh Cảnh, Lê Quang Thiết, Trương Xướng, Tôn Thất Quyên, Nguyễn Xuân Tiếu, Hoàng Xuân Ba, Lê Bá Ý và Tôn Thất Tùng. Qua Hội An Nam Phật học và tạp chí Viên Âm, Ngài và đệ tử mình đã khéo léo dung nạp được rất nhiều chánh kiến khác nhau, về cùng chí hướng là tận dụng người tri thức để phục vụ Phật pháp. Đối với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Huế, Hòa thượng Giác Tiên là người có công nhiều nhất.
Năm Bính Tý (1936), ngày mồng 2 tháng 10 Âm lịch, Ngài cho triệu tập các môn đồ tứ chúng về đầy đủ và tụng bộ Pháp Bảo Đàn kinh, tụng đến phẩm Bát Nhã thì Ngài cho dừng lại để dặn dò những điều cần thiết.
Ngày 04 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 11 (11 Novembre 1936), Ngài viên tịch. Thọ 57 tuổi đời(1), có được 26 hạ lạp. Tháp Ngài sau đó được tôn trí nơi phía tả khuôn viên chùa Trúc Lâm.
 
1.
Bia ký Hòa thượng Giác Tiên
Đại sư, Hòa thượng Giác Tiên họ Nguyễn, nguyên quán xã Dạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên. Hạ sanh năm Tự Đức 33, Canh Thìn (1880). Năm mười một tuổi buồn táng song thân, cảm đời mộng ảo, lập chí xuất trần, đến lễ Hòa thượng Tâm Tịnh chùa Từ Hiếu xin làm đệ tử xuất gia. Sư vốn căn tánh thông lợi, Kinh Luật am tường, thường muốn kết am chuyên tu trên núi Duyên Xuân. Tỳ-kheo-ni Hồ Thị Pháp, Pháp danh Thanh Linh hiệu Diên Trường cảm mộ chí Sư, lập chùa Trúc Lâm mời Sư làm Tọa chủ khai sơn. Từ đây thiền tâm viên đốn, mưa pháp lan truyền. Năm 28 tuổi (1908) thọ giới Cụ túc với Hòa thượng Vĩnh Gia tại Giới đàn chùa Phước Lâm, tỉnh Quảng Nam, kết tập chúng giảng học tại chùa Thiên Hưng, đại chúng Tăng Ni quân triêm lợi ích. Được Bổn sư Tâm Tịnh phú pháp kệ:
“Giác đạo kiếp không tiên,
Không không Bát Nhã thuyền.
Quả nhân phù hạnh giải,
Xứ xứ tức an nhiên”.
Đối với việc y bát tương truyền, thiệu long giống Phật, Sư không thể từ thác. Năm Khải Định Mậu Ngọ (1918) họp thiền môn
 

(1) Tham khảo Viên Âm nguyệt san, năm thứ 2, số 23 - Sept-Octobre 1936, tr. 50, 51, 52. Bia Khai sơn Trúc Lâm Đại Thánh tự, sáng lập An Nam Phật Học Hội, Chứng minh Đạo sư Trừng Thành Chính Thông Giác Tiên Thiền sư ký minh.

pháp lữ, mở Giới đàn tại chùa Từ Hiếu, thỉnh Hòa thượng Tâm Tịnh làm Đàn đầu truyền giới. Năm Khải Định Giáp Tý (1924) họp đông đảo thiền hòa kết giới tu 9 tuần tại chùa Tường Vân. Hạnh giải công viên, phước tuệ song tiến, tự tha đều lợi. Sư là anh tài của Phật Tổ, là rường cột của thiền môn. Hằng ngày thường tham câu kệ:
“ Các pháp vốn xưa nay,
Tướng thường tự vắng lặng ”
Năm Bảo Đại nguyên niên (1926) là Trú trì chùa Diệu Đế, năm Bảo Đại thứ sáu (1931) sùng tu chùa Trúc Lâm, Phật điện Tăng đường một phen đổi mới.
Sư vốn có tâm hạnh Phổ Hiền, chí nguyện độ sanh, nên đã thỉnh Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp ở Bình Định khai đàn giảng học tại chùa Trúc Lâm. Không bao lâu thiện nam tín nữ thấm nhuần mưa pháp, phát chí Bồ-đề, nguyện cùng nhau hoằng thâm chánh giáo, cho nên Hội An Nam Phật Học, sớm xướng chiều thành, đại tiểu Phật học đường kế tục khai sáng. Hội An Nam Phật Học được phát triển lâu bền chính là nhờ nguyện lực của Sư.
Năm Bảo Đại thứ 11 (1936) tháng mười ngày mồng hai, Sư tập hợp đệ tử tụng kinh Pháp Bảo Đàn, đến phẩm Bát Nhã, Sư phó chúc gia nghiệp Phật Pháp cho các đệ tử Mật Tín, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Tâm Minh … qua ngày mồng bốn buông bỏ thế duyên, an nhiên viên tịch, thọ 57 tuổi đời 29 hạ lạp. Tháp dựng ở bên tả của chùa. Tâm kinh nói: “Xa lìa mộng tưởng điên đảo, cứu cánh Niết Bàn” thật đáng tin vậy thay!
“Pháp giới không sanh tử,
 Đâu còn có giác duyên

Nay Diêm-phù viên mãn,
Kể gì đến tháp bia”

Nhưng đạo phong cao diệu, pháp độ hoằng viên như Thầy chúng tôi, chúng tôi người sau cần nên ngẫm nghĩ. Do vậy, ghi lại dấu tích nơi đây, để làm nhân duyên cho đời cho đạo, nguyện Pháp nhãn chiếu soi càng thêm sáng mãi.
Bài minh rằng:

Linh khí Hương Bình, 
Cửa Phật sinh Tăng ,
Đồng niên diệu ngộ,
Lòng trần đứng trong,
Xả thân hoằng pháp,
Thiền nghiệp trùng hưng
Sấm vang chuông lớn,
Giác tỉnh quần mông,
Tăng đồ đông đảo,
Duy Sư cậy trong,
Hoa Đàm một đóa,
Bí điển ngàn trùng,
Đất trời xoay chuyển,
Núi đạo chẳng rung,
Bia đá sáng trưng,
Đời đời xưng tụng.

Bảo Đại năm 12 Đinh Sửu (1937) tháng chạp ngày Phật thành đạo.
(Phó Hội trưởng Thượng thơ sung Quốc sử quán Tổng Tài Lê Nhữ Lâm phụng soạn. An Nam Phật học hội Hội trưởng Hiệp tá Đại học sĩ Nguyễn Đình Hòe đồng Bổn hội phụng lập).

Cố Hòa thượng, khai sơn Chùa Trúc Lâm Đại Thánh, sáng lập, Chứng minh Đại đạo sư Hội An nam Phật học, đời thứ 42 dòng Thiền Lâm tế Chánh tông, Húy thượng Trừng hạ Thành, tự Chí Thông, hiệu Giác Tiên.
(Bài dịch bia ký tại tháp của Hòa thượng Thích Giác Tiên chùa Trúc Lâm-Huế do Hòa thượng Thiện siêu dịch)
2
Lễ Trung điệu

Ngài Giác Tiên của Hội Annam Phật học
Thầy Chứng Minh của Hội chúng tôi là người làng Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên, thầy sanh về nhà họ Nguyễn trong năm Canh Thìn là năm Tự Đức tam thập tam niên (1880). Song thân của thầy mất sớm, thầy xuất gia khi 15 tuổi, làm đệ tử ngài Tâm Tịnh Hòa thượng ở chùa Từ Hiếu. Thầy bổn tánh thông minh, tập học kinh luật rất mau chóng, được ngài Tâm Tịnh biệt đãi, đến năm Thành Thái thập nhị thì thầy được ngài Bổn sư thế độ làm Sa-di khi ấy thầy được 21 tuổi. Ba năm về sau, ngài Tâm Tịnh nhường chùa Từ Hiếu cho bản phái, dựng am Thiếu Lâm nơi chùa Tây Thiên bây giờ, tiện bề tu hành tham cứu thì thầy cũng theo về am Thiếu Lâm mà học đạo. Đến năm Duy Tân tứ niên,ngài Vĩnh Gia Hòa thượng khai giới đàn tại chùa Phúc Lâm thì thầy đến xin thọ Cụ túc giới, được lựa làm vị Thủ chúng trong các hàng thọ giới. Lúc đó bà Tỷ kheo Ni Pháp hiệu là Diệu Trường dựng chùa Trúc Lâm và xin ngài Tâm Tịnh cho thỉnh thầy làm Thượng tọa chùa ấy. Từ đó thầy ở chùa Trúc Lâm thâu nạp đồ chúng đặng dạy vẽ tu tập, đến năm Khải Định nguyên niên, năm ấy thầy đã 37 tuổi, thì được ngài Tâm Tịnh Hòa thượng phú pháp và cho bài kệ rằng:
                                 覚 道    刼 空 仙
                                 空 空    般  若 船
                                 果 因 符 行 解
                                 處 處 即 安 然
Phiên âm:           Giác đạo kiếp không tiên,
                            Không không Bát-nhã thuyền
                            Quả nhơn phù hạnh giải
                            Xứ xứ tức an nhiên
Tạm dịch:            Đạo giác ngộ chân không,
                            Lấy Bát-nhã làm tông.
                            Quả nhân cùng hạnh giải,
                           Xứ xứ ắt lưu thông
Năm Khải Định ngũ niên, ngài Huệ Pháp chùa Thiên Hưng khai giảng đường chỉ dạy kinh điển, thầy cùng các đệ tử đồng đến tham học, đã được ngài Huệ Pháp nhận là một bực túc căn thâm hậu, đủ sức xiển dương Phật pháp cho kẻ hậu tấn.
Thầy bát lãm quần kinh quán thông giáo lý, nhưng vẫn thiệt hành chí nguyện “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, không một trường nào giảng kinh mà không có thầy đến tham dự. Đối với công việc hoằng pháp thầy vẫn cật lực thừa đương không lúc nào thối thác. Vì vậy nên các đệ tử của thầy toàn là những bậc học rộng biết nhiều, ngoài ông Thích Mật Khế là một vị Giảng sư của Hội chúng tôi rất có danh tiếng lại còn những ông Thích Mật Hiển, Thích Mật Nguyện, Thích Mật Thể, đều là những bực thông hiểu giáo lý, có thể trù trì Phật pháp sau này.
Đến năm Bảo Đại nguyên niên, thầy được chỉ chuẩn làm trù trì chùa Diệu Đế, đến Bảo Đại ngũ niên thầy thân hành vào tỉnh Bình Định rước thầy Phúc Huệ Hòa thượng (một vị Chứng Minh
Đại Đạo sư của An nam Phật học Hội) mở Phật học đường tại chùa Trúc Lâm để tiếp dẫn các người hậu tấn. Đầu năm Bảo Đại thất niên, thầy thấy cơ duyên đã thành thục nên hiệp đồng với các vị Đại đức trong Sơn môn và các cư sĩ lập thành An nam Phật học Hội để tuyên truyền Phật pháp. Đối với công việc hoằng pháp của Hội, thầy là một vị dắt đường chỉ nẻo rất chu đáo, phần nhiều các hàng học tăng, các hàng cư sĩ không hiểu Phật pháp trong An nam Phật học Hội chúng tôi đều có nhờ công đức thầy đạo tạo cả.
Đầu năm Bảo Đại thập niên, thầy cùng ông Thích Mật Khế mở ra lớp Tiểu học đường của An nam Phật học Hội, đến cuối năm ấy thầy lại chiêu tập các học Tăng thanh niên mở ra lớp Đại học đường.
Năm Bảo Đại thứ 11, ngày mồng hai tháng mười buổi sớm, thầy tập các đệ tử giảng kinh Bảo Đàn và phú pháp cho, trưa hôm ấy thì bỗng dưng thầy đau nặng, đến ngày mồng 4 thì viên tịch tuổi mới 57.
Toàn thể An nam Phật học Hội chúng tôi nghe tin ấy như mất huệ nhựt trong lúc tối tăm rất lấy làm cảm động và thương tiếc, học sinh các trường niệm công đức thầy đồng luân niệm Phật tụng kinh cả ngày cả đêm cho đến khi nhập tháp. Ngày mồng 5, lúc hai giờ chiều thì làm lễ tẩn liệm, ngày mồng chín, lúc ba giờ chiều thì làm lễ tống táng, có các cụ Danh dự, các thầy Chứng minh, các vị Đại đức trong chư sơn, các học tăng và các hội viên đồng đến dự lễ rất đông đảo, tiếng niệm Phật vang lừng cả núi làm cho ai ai cũng phải phát tâm. Trong lúc nhập tháp, vì thầy lãnh chức Chánh Giám đốc trường Tiểu học, nên một học tăng trường ấy đọc một bài vãn văn rất chơn thành và rất bi thiết như một bầy con đương nhỏ dại đối với một vị Từ phụ. Trong dịp này, các Hội Phật học ở ba kỳ đều có tỏ lòng thương tiếc đến điếu tang hoặc làm lễ hộ niệm.
Đối với thạnh tình của các Hội đồng chí, chúng tôi chi xiết bùi ngùi cảm tạ. Khi được tin ngài Giác Tiên thị tịch, cụ Hội trưởng Bắc kỳ Phật giáo Hội có đánh giây thép chia buồn, và Hội làm một tuần lễ trợ niệm vãng sanh tại chùa Hội quán và có ủy Sư cụ Trần Thanh Thuyên, cố vấn đạo sư, cùng Sư ông Tố Liên, Đại diện Hội Phật giáo vào Huế làm lễ điếu tang, Hội có đi một câu đối như vầy:
      “Vân nạp bắc lai, đàm luận di tuần khâm giác chỉ
      Trúc Lâm nam vọng, vãng sanh hà xứ mích tiên tung”
Lưỡng xuyên Phật học hội được tin liền đánh giây thép chia buồn và làm Đại lễ cầu nguyện tại chùa Hội quán. Hội lại có gởi cho Pháp tự ngài Giác Tiên số bạc 25#00 để điếu tang.
Tịnh độ cư sĩ Phật hội ở Chợ Lớn hay tin có đánh giây thép chia buồn và làm lễ cầu nguyện long trọng tại chùa Tân Hưng Long.
Nam kỳ nghiên cứu Phật học Hội, Lưỡng Xuyên Phật giáo Liên Hữu Hội đều có thơ chia buồn và tỏ lời cầu nguyện cho ngài Đại Đạo sư vãng sanh Cực Lạc thế giới.
Thiên Thai Thiền giáo Tông Liên Hữu Hội ở Bà Rịa có gởi thơ chia buồn và tính đến ngày khai trường Đại học sẽ làm lễ một đêm để cầu nguyện vãng sanh Cực Lạc.
Thay mặt cho Đà Thành Phật học Hội, ngài Chứng minh Đạo sư, Trù trì chùa Phổ Thiên, ra đi điếu một bức trướng.
Đã Nẵng Chi hội của An nam Phật học Hội đi điếu hai bức phan thêu chữ: Nam mô Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật.
Chi hội ở Đồng Hới, ở Hội An, ở Qui Nhơn đều có phái đại biểu về dự lễ tống táng và thiết lễ cầu nguyện tại Chi hội quán.
Trong rạp, trướng liễn của các vị Danh dự, của các Chư Sơn 
Đại đức, của Hội An nam Phật học, của các Chi hội, của các Phật học đường và của các Hội viên rất nhiều; xin lược kể ít câu như sau:
            Trúc Lâm không quải tam canh nguyệt
            Diệu Đế trì văn ngũ dạ chung
            (Chư sơn tỉnh Phú Yên)
            Pháp vũ bản thi, uất uất đàn lâm vô tạp thọ
            Cảnh phong phiêu động, mang mang nghiệp hải thiểu từ hàn
(Thầy trù trì chùa Viên Thông)
            Viên Âm xứng tánh thân thừa nhật
            Diệu pháp tùy duyên quảng thuyết thời
            (Viên Âm nguyệt san)
Lễ tống táng xong, bổn đạo và các hội viên đồng chung nhau lập tháp của thầy Đại Đạo sư trong khuôn vườn chùa Trúc Lâm. An nam Phật học Hội sẽ dựng một cái bia để ghi chép công đức của thầy đối với các công việc lợi sanh hoằng pháp.
Công đức chấn hưng Phật học của ngài Giác Tiên Đại Đạo sư, Hội An nam Phật học chúng tôi rất vĩ đại, đáp lại công đức ấy, chúng tôi chỉ biết thành tâm cầu nguyện thầy chúng tôi mau đặng Phật thọ ký để hóa độ tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. (An Nam Phật học Hội)
 
3
Bài tán đề trên tượng Hòa thượng Giác Tiên,
chùa Trúc Lâm
                             Ánh thiêng riêng tỏ
                             Vượt hút căn trần
                             Hiện phàm hiện thánh
                             Theo tục theo chân
                             Xương tráng thêm thịt,
                             Người chết sống lên
                             Tán thán chẳng kịp
                             Lớn thay ân sư.
                                                    Hòa thượng Bích Phong.
 
 
 
 
 
*

 
/193
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »