Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 692.

Chương 82: Hòa Thượng Ấn Bổn Vĩnh Gia (1840 – 1918) Chùa Phước Lâm – Đà Nẵng (Trang 273 - 276)

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa  - Tập 1

Hòa thượng Ấn Bổn Vĩnh Gia
(1840 – 1918)
Chùa Phước Lâm – Đà Nẵng

Hòa thượng Vĩnh Gia thế danh Đoàn Văn Hiệu[1], sinh giờ Dần ngày Khánh đản đức Quan Thế Âm 19 tháng 2 năm Canh Tý (1840), nhằm niên hiệu Minh Mạng thứ 21 tại xã An Hiệp, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là An Hiệp, xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).
Thuở thiếu thời Ngài được thân sinh cho theo học chữ Nho mong lập công danh nơi cửa Khổng sân Trình để rạng rỡ với đời. Nhưng có lẽ túc duyên nhiều đời với chốn Không Môn nên Ngài đã khước từ lợi danh trần thế, mong phủi sạch não phiền trong giáo lý Phật Đà.

 


[1] Theo như tiểu sử in trong Giới điệp của giới đàn Vĩnh Gia năm 1970 do Phật học viện Phổ Đà tổ chức thì Ngài có tên là Nhược. Tuy nhiên, trong một số giấy tờ văn khế lúc Ngài còn Trụ trì chùa Linh Ứng thì Ngài ký tên là Đoàn Văn Hiệu. Vì thế, trong bản tiểu sử này chúng tôi ghi thế danh Ngài là Đoàn Văn Hiệu. 

Năm Mậu Ngọ (1858), khi vừa tròn 18 tuổi thì thân sinh qua đời. Từ đó, Ngài đi khắp đó đây tìm bậc minh sư để thọ giáo tu học. Sau khi đàm đạo với cụ Bố chánh sứ Nguyễn Khoa Luận (về sau xuất gia với đạo hiệu Viên Giác Hòa thượng – khai sơn chùa Ba La Mật tại Huế) thì được biết Thiền sư Toàn Nhâm Quán Thông là bậc Cao tăng đương thời đang hoằng hóa tại đạo tràng Phước Lâm nên Ngài tìm đến học đạo. Ngài được Hòa thượng Quán Thông thuận cho nhập chúng tu học tại chốn tổ ròng rã sáu năm. Sau đó, Tổ Quán Thông cho Ngài ra Tam Thai – Ngũ Hành Sơn thọ giáo với Thiền sư Chương Tư Huệ Quang là đệ tử lớn của Tổ. Tại Tổ đình Tam Thai, Ngài được tổ Huệ Quang thế độ ban cho pháp danh Ấn Bổn, tự Tổ Nguyên.
Năm Quý Hợi (1863), Tổ Quán Thông khai giới đàn tại chùa Phước Lâm, Ngài được đăng đàn thọ giới Cụ túc, đắc pháp hiệu là Vĩnh Gia. Như vậy, Ngài chính thức nối pháp dòng Lâm Tế đời 39, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh khi vừa tròn 24 tuổi.
Sau khi đắc giới, Ngài nỗ lực tinh cần tu học, lễ bái sám nghiệp, nghiêm trì giới luật nên đạo phong dần dần tỏa rạng.
Năm Giáp Thân (1884), Kiến Phước nguyên niên, Hòa thượng được triều đình bổ nhiệm làm Trụ trì quốc tự Linh Ứng – Ngũ Hành Sơn.
Năm Đinh Hợi (1887), Ngài Chương Nhẫn Quảng Hóa, Trụ trì Tổ đình Phước Lâm viên tịch, Hòa thượng niệm ân tổ đức bèn khất hồi về lại Phước Lâm để phụng sự chốn tổ, nơi mà Ngài đã sơ cơ nhập đạo. Từ đây Ngài đã gióng vang rền trống pháp, tiếp nối ngọn đèn thiền của tông môn Chúc Thánh nên đồ chúng theo về tu học rất đông. Phước Lâm trở thành một đạo tràng hưng thịnh bậc nhất của tỉnh Quảng Nam thời bấy giờ.
Trong chốn rừng thiền, Ngài là bậc long tượng mà tăng nhân muôn nơi kính ngưỡng. Vì thế, Ngài thường được cung thỉnh làm vào Hội đồng Thập sư các Đàn giới như: Năm Quý Tỵ (1893) tại Tổ đình Chúc Thánh, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê; năm Giáp Ngọ (1894), Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhị Tôn chứng giới đàn chùa Báo Quốc – Huế; năm Bính Ngọ (1906), Ngài được cung thỉnh làm Yết ma A-xà-lê tại giới đàn chùa Thập Tháp Di Đà – Bình Định. Đặc biệt năm Canh Tuất (1910), Ngài khai đại giới đàn tại Tổ đình Phước Lâm và được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.
Trong đạo tình pháp lữ với chư sơn các tỉnh thành thì Ngài có mối quan hệ khắng khít mật thiết. Điều này được thể hiện trong việc Ngài trùng tu Tổ đình Phước Lâm vào năm Kỷ Dậu (1909) được chư sơn khắp tỉnh thành phát tâm hộ trợ. Đặc biệt, trong văn bia nơi bảo tháp của Ngài do Hòa thượng Huệ Pháp, Trụ trì chùa Thiên Hưng – Huế đứng chánh bái. Như vậy, giữa Tổ đình Vĩnh Gia và Ngài Huệ Pháp có một mối giao tình rất mật thiết.
Đối với triều đình nhà Nguyễn, Ngài là bậc thầy hướng đạo. Vì thế, Ngài thường được mời ra đất thần kinh để giảng dạy Phật pháp cho hoàng gia. Giới đức uy nghi, làu thông kinh điển, nên các danh nho đương thời theo về học Phật và quy y với Ngài như: Tuy Lý Vương – Miên Trinh, Đô thống Lê Viết Nghiêm v.v… Đặc biệt bậc danh nho cùng quê với Ngài là cụ Hà Đinh Nguyễn Thuật – Thượng thư Bộ lại Hiệp biện Đại học sĩ hàm Thái tử Thiếu Bảo đã cung lục hai câu đối của thi sĩ Tô Đông Pha đời nhà Đường tại Trung Quốc để tặng Ngài. Câu đối như sau:
Tăng lữ thả bồi hương hỏa xã
Cao tình du ái thủy vân hương.
 
Ngài chú trọng đến việc đào tạo Tăng tài kế thừa truyền trì mạng mạch chánh pháp. Vì thế, Ngài thường căn dặn hàng môn đồ rằng: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới phải hoàn lại y bát, ra khỏi Già lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân chia. Có vậy nước Thiền định mới khai thông, đèn Tri giác thêm sáng tỏ…” Và trong hàng môn hạ của Ngài, có những vị đã tiếp nối Tôn sư hoằng truyền Phật pháp như các Ngài: Ấn Nghiêm Tổ Thân Phổ Thoại (đệ tử y chỉ – khai sơn chùa Long Tuyền – Hội An); Ấn Bính Tổ Thuận Phổ Bảo (đệ tử y chỉ – Trụ trì đời thứ 8 Tổ đình Chúc Thánh); Chơn Chứng Đạo Tâm Thiện Quả (đệ tử y chỉ – Trụ trì đời thứ 9 Tổ đình Chúc Thánh); Chơn Thế Đạo Viên Phổ Minh (Trụ trì đời thứ 7 Tổ đình Phước Lâm); Chơn Huệ Đạo Nhật Phổ Trí (Trụ trì đời thứ 8 Tổ đình Phước Lâm); Chơn Sâm Đạo An Phổ Truyền (khai sơn chùa Văn Thánh – Gia Định); Chơn Phước Đạo Bích Hoằng Thọ (khai sơn chùa Thanh Quang – Campuchia); Chơn Kiết Đạo Tường Phổ Hóa, Chơn Tánh Đạo Không Hoằng Định (hoằng hóa tại chùa Phước Huệ – Huế); Chơn Nhã Đạo Huyền Hoằng Nghĩa, Chơn Quang Đạo Hiển Hoằng Nhơn (Trụ trì Tổ đình Vạn Đức – Hội An) v.v… hàng đệ tử xuất gia và tại gia ân triêm pháp nhũ số đông vô lượng.
Thế rồi, năm tháng dần trôi, thân tứ đại của Hòa thượng theo thời gian bì quyện. Thuận lẽ vô thường, Hòa thượng đã xả báo thân vào giờ Tuất (7-9 giờ tối) ngày 20 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), thọ thế 79 năm, với 55 hạ lạp.
 
 
 
 
*
 
/193
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »