Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 692.

Chương 141: Hòa Thượng Thiện Hoa (1918 - 1973) Chùa Ấn Quang – Tp. Hồ Chí Minh (Trang 513 - 521)

Hòa thượng Thiện Hoa (1918 - 1973)
Chùa Ấn Quang – Tp. Hồ Chí Minh

Hòa thượng pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hồn Tuyên, sanh ngày 07 tháng 8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Qui, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Vì Quy y từ thuở ấu thơ, Ngài lấy pháp danh là thế danh, nên húy là Trần Thiện Hoa. Thân phụ Ngài là ông Trần Văn Thế pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sáu pháp danh Diệu Tịnh. Ngài là con út trong gia đình tám anh chị em, ba người anh chị của Ngài cũng xuất gia đầu Phật.
Cả gia đình Ngài đều quy y với Tổ Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc, pháp danh Thiện Hoa là do Tổ đặt cho Ngài.
Nhân đi chùa Phước Hậu, làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn làm lễ kỳ siêu cho cha. Ngài quyết xin mẹ cho ở chùa xuất gia, lúc ấy Ngài được 7 tuổi. Sau đó, Ngài được gởi tới chùa Đông Phước, huyện Cái Vồn theo học với Tổ Khánh Anh, được Tổ đặt pháp hiệu là Hoàn Tuyên. 

Năm 1931, Tổ Khánh Anh lãnh chùa Long An ở Đồng Đế, Trà Ôn và khai lớp học gia giáo tại đây. Ngài được nhập chúng theo học, lúc ấy Ngài 14 tuổi.
Năm 1935, Phật học đường Lưỡng Xuyên khai giảng, Ngài được theo học tại đây, và ngay năm ấy, Ngài thọ giới Sa Di, lúc 17 tuổi.
Năm 1938, Ngài được Ban Giám Đốc Phật học đường cử ra Huế học cùng với các Tăng sinh khác trong lớp đầu tiên, lúc ấy Ngài 20 tuổi, Ngài học ở Phật học đường Tây Thiên hai năm. Sau đó Ngài vào chùa Long Khánh, Qui Nhơn học Phật pháp với Tổ Phước Huệ chùa Thập Tháp hết một năm tròn. Ngài lại trở ra Huế dự học tại Phật học đường Báo Quốc ngót bốn năm, rồi đến tòng lâm Kim Sơn một năm. Sau tám năm theo học Ngài trở về miền Nam.
Năm 1945, Ngài hợp tác cùng Hòa thượng Trí Tịnh khai giảng Phật học đường Phật Quang tại rạch Bang Chang, xã Thiện Mỹ, Trà Ôn. Số Tăng sinh đến học trên ba mươi vị. Năm 29 tuổi, Ngài thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát tại giới Đàn chùa Kim Huê, Sa Đéc.
Năm 1946 - 1947, phong trào chống Pháp cứu nước đã làm ảnh hưởng đến trường học.  
Hòa thượng Trí Tịnh trở lên Sài Gòn, chỉ còn Ngài ở lại.  Vừa dạy học vừa mở phòng thuốc giúp đỡ nhân dân, Ngài hướng dẫn Tăng Ni vừa công tác chẩn trị y học vừa học kinh điển.  Ngài lại mở những lớp học Bình Dân dạy ban đêm  để chống nạn mù chữ.  Học viện đạt kết quả nhanh chóng nhờ Ngài có sáng kiến soạn tập sách Vần Chữ  O.
Năm 1953, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt cử Ngài giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục và Trưởng Ban Hoằng Pháp Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, kiêm Đốc Giáo Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang, Sài Gòn.  
Ngoài việc đích thân giảng dạy cho học Tăng ở trường này, Ngài còn dạy các Phật học Ni trường Từ Nghiêm và Dược Sư.  Số lượng Tăng Ni được đào tạo ra từ các trường đều là những vị xuất sắc sau này phụ lực với Ngài đảm đang các Phật sự của Giáo hội cũng như công tác hoằng pháp và giáo dục.
 Năm 1957, Ngài lại chủ xướng mở những khóa huấn luyện trụ trì lấy tên là Như Lai Sứ Giả.  Tăng giới đặt tại chùa Pháp Hội, Ni giới đặt tại chùa Dược Sư.  Những vị tốt nghiệp các khóa này được bổ về chùa khắp lục tỉnh tập sự hoằng pháp.  Phong trào này làm dấy lên sự tu học của tín đồ Phật tử và là mơ ước của mọi Tăng Ni muốn trở thành sứ giả Như Lai. 
Với trách nhiệm Trưởng ban Giáo dục trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Ngài đã khuyến khích, hỗ trợ mở trường Phật học tại khắp các tỉnh miền Tây và chính Ngài giảng dạy khắp nơi để động viên các trường.  Hầu hết Tăng Ni miền Nam đương thời đều chịu ân giáo dục của Ngài ít nhiều, dù gián tiếp hay trực tiếp.
  Với trách nhiệm Trưởng Ban Hoằng Pháp Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, đích thân Ngài huấn luyện Tăng Ni thành Giảng viên thật sự có thể đi diễn giảng các nơi.  Ngài còn huấn luyện hàng cư sĩ theo học có khả năng truyền đạt lại cho các lớp học sau.  
Ngài đã mở các lớp giáo lý Phật học phổ thông do Ngài chủ trương tại các chùa Ấn Quang, Phước Hòa, Xá Lợi, Giác Tâm, Dược Sư.... để giảng dạy cho Phật tử, làm cho phong trào học Phật miền Nam trỗi dậy mạnh mẽ, người người hăng say tu học.
Năm 1956, Ngài giữ chức vụ Ủy viên Hoằng Pháp của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, cùng với Hồ thượng Nhất Hạnh xuất bản nguyệt san Phật Giáo Việt Nam.  Ngài tổ chức phát thanh Phật giáo hằng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn.  Ngoài ra, Ngài còn lập nên
nhà xuất bản Phật giáo lấy tên Hương Đạo do Ngài chịu trách nhiệm, và chủ trương một  Phật học Tùng thư với tám chuyên đề sách.
Năm 1963, chống sự áp bức của chế độ nhà Ngô, Ngài đã tích cực đấu tranh cho Phật giáo, Ngài nhận chức Phó Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo.  Với uy tín sẵn có, Ngài kêu gọi Tăng Ni và Phật tử miền Nam đứng lên bảo vệ Đạo pháp, đã được sự đáp ứng nồng nhiệt của Tăng tín đồ đấu tranh kiên trì cho đến ngày thành công.
Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài nhận chức Đệ Nhất Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, kế đến nhận chức trụ trì Việt Nam Quốc Tự.
Năm 1966, Ngài đảm nhận chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo (Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất).  Trong giai đoạn này mặc dù có nhiều sóng gió, nhưng Ngài vẫn vững vàng chèo chống, lấy sự tồn tại của đạo pháp trong sự tồn tại của dân tộc và nhân loại làm đường lối lãnh đạo.
Năm 1968, Ngài được tồn thể đại biểu bỏ thăm lưu nhiệm chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo.  Lúc ấy dù căn bệnh đã bộc phát, nhưng Ngài vẫn không nề hà gánh lấy trách nhiệm Giáo Hội càng ngày càng nặng nề.  Trong giai đoạn này, mọi Phật sự đáng kể ở miền Nam đều được Ngài khuyến khích trợ giúp đến thành công.
Năm 1973, bệnh tình càng nặng Ngài phải giải phẩu và không trở dậy được nữa.  Cho đến ngày 20 tháng Chạp năm Nhân Tý, nhằm ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Ngài đã an lành viên tịch, thọ 55 tuổi đời và 26 tuổi đạo.
Các tác phẩm của Ngài để lại rất nhiều, là những nấc thang Giáo lý có giá trị đặt nền tảng học Phật cho Tăng tín đồ.  Xin lược ghi những danh mục lớn như sau: 
- Phật Học Phổ Thông (12 quyển). - Bản đồ Tu Phật (10 quyển). - Duy thức học (6 quyển). - Phật học giáo khoa các trường Bồ Đề. - Giáo lý dạy Gia đình Phật tử. - Nghi thức tụng niệm. - Bài Học Ngàn Vàng (8 tập). - Đại cương kinh Lăng Nghiêm.  - Kinh Viên Giác lược giải. - Kinh Kim Cang. - Tâm kinh. - Luận Đại Thừa Khởi Tín. - Luận Nhơn Minh. - Và các loại tạp luận, sự tích.....
Tổng cộng là 80 quyển trong 8 loại chuyện.
 
Tưởng niệm
Điếu văn của Hội đồng Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo
Kính bạch Giác linh Hòa thượng Viện trưởng,
Thừa lịnh đức Tăng Thống và Hội đồng Viện Tăng Thống, thay mặt Hội đồng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và tồn thể Tăng Ni tín đồ Phật tử. Chúng tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh Hòa thượng cố Viện trưởng, trong giờ phút thiêng liêng ngàn thu vĩnh biệt này.
Trước giờ lâm chung, Hòa thượng có dạy các đệ tử rằng : “sinh, lão, bệnh, tử là luật vô thường của cuộc sống. không ai tránh khỏi cái chết, thì dù chết hôm nay hay sống thêm năm mười năm nữa cũng thế thôi”. Câu nói thật chí lý, chứng tỏ sự giác ngộ về lẽ vô thường của một bậc chân tu. Hòa thượng không sợ chết, nên Hòa thượng đã sống một cuộc sống tuyệt đẹp. Và vì tuyệt đẹp, nên chúng tôi nghĩ rằng, nếu cuộc đời Hòa thượng kéo dài thêm được năm mười năm nữa, thì quý hóa biết bao nhiêu; quý hóa cho chúng tôi, những đồng hành với Hòa thượng; quý hòa cho tăng ni và tín đồ mà Hòa thượng đang lãnh đạo, quý hóa cho đạo pháp và dân tộc mà Hòa thượng đã đem cả cuộc đời mình ra phụng sự.
Làm sao không tiếc nuối được, khi nghĩ rằng từ nay chúng tôi vĩnh viễn mất đi một vị chân tu khả kính, một mẫu người lý tưởng của Phật giáo, với những đức tính bao dung và cởi mở đối với mọi người, mà lại cương quyết nghiêm khắc với mình và lý tưởng mà mình theo đuổi; một người luôn luôn tinh tấn, dũng mãnh tiến đều, mặc dù bệnh tật cứ theo đuổi khuấy rầy ngăn đường cản lối; một người ngồi trên danh vọng mà vẫn khiêm nhường, không để cho danh vọng làm hoen ố, một người lúc bình thường, thì rất mực mềm mỏng hiền hòa, nhưng gặp cơn tai biến lại rất đổi hiên ngang hùng dũng, cương quyết vượt qua cho được mọi trở lực gian nguy.
Với những đức tính quý báu ấy, Hòa thượng đã phục vụ đắc lực cho đạo pháp và dân tộc, và đã tạo dựng một sự nghiệp lớn lao hiếm có ở cõi đời này.
Đối với đạo, Hòa thượng là một nhà giáo dục lỗi lạc, đã đào tạo hết lớn này đến lớp khác không biết bao nhiêu Tăng tài cho miền Nam này. Trong địa hạt sáng tác và phiên dịch kinh điển Hòa thượng đã đóng góp một phần lớn cho công cuộc xây dựng Tam tạng kinh điển Việt Nam. Hòa thượng là người đầu tiên trong giới Tăng-già đã có sáng kiến thành lập và điều hành một nhà xuất bản kinh sách nổi tiếng mà không một độc giả Phật tử thường nghiên cứu kinh điển nào lại không biết đến. Trong địa hạt chèo lái con thuyền đạo pháp Việt Nam, Hòa thượng là người trong gần 3 năm nay, đã giữ nhiều chức vụ quan trọng nhất : Trưởng ban Hoằng pháp Hội Phật học Nam Việt và Giáo hội Tăng-già Nam Việt, Trưởng ban Giáo thụ Tăng-già tồn quốc, Ủy viên Giáo dục Tổng hội Phật giáo Việt Nam thống nhất được thành lập (1964). Hòa thượng là đệ nhất Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, và từ năm 1967 là năm Giáo hội bắt đầu gặp nhiều tai biến nhất cho đến nay (1973), liên tiếp trong mấy nhiệm kỳ, Hòa thượng được cử giữ chức Viện trưởng và 
đã tận tụy làm tròn trách vụ lớn lao của mình, trong niềm tin yêu quý trọng của mọi người, mọi giới, trong cũng như ngồi Giáo hội.
Đối với dân tộc, Hòa thượng là một người yêu nước sáng suốt. trong thời kháng chiến chống Pháp, mặc dù lo việc tu hành, Hòa thượng vẫn không quên nhiệm vụ của một công dân đối với đất nước, nên đã đứng ra nhận lãnh chức vụ Ủy viên Giáo dục để thanh tốn nạn mù chữ và đã sáng chế ra lối tập đọc theo “vần O”, hiện nay vẫn còn thông dụng. Trong giai đoạn chiến tranh hiện tại, trước cảnh huynh đệ tương tàn và cảnh ngoại bang dày xéo đất nước thân yêu. Hòa thượng vẫn không ngớt đứng lên kêu gọi các phe dừng tay bắn giết, kêu gọi lấy tình thương xóa bỏ hận thù, trong suốt mười năm chiến tranh bộc phát, không một phút nào Hòa thượng không xót xa cho đất nước điêu linh vì bom đạn. một câu nói của Hòa thượng đủ biểu lộ tâm trạng đó : “nếu phải đem thân xác này chia xẻ làm trăm ngàn mảnh để đổi lấy hòa bình cho Việt Nam tôi cũng rất sẵng sàng”. Hòa thượng đã bất chấp nguy hiểm đứng ra đỡ đầu cho bao phong trào phản chiến tại Việt Nam; và với chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo, không một huấn từ nào mà Hòa thượng không nhắc nhở đến đức hiếu sinh của chư Phật, tình thương yêu giữa đồng loại, đồng bào; trước cuộc chiến tranh diệt chủng không một điệp văn nào Hòa thượng lại không hô hào chủ trương hóa giải hận thù, hòa đồng dân tộc mà Giáo hội đã đề ra.
Hòa thượng đã đau khổ vì chiến tranh, đã thiết tha với hòa bình, thế mà nay chiến tranh vừa chấm dứt, hòa bình đang ló dạng, Hòa thượng lại ra đi! Hòa thượng ra đi, để lại bao thương tiếc trong lòng người còn ở lại. Hòa thượng ra đi để lại một khoảng trống vắng giữa lòng Giáo hội, trong khi Tăng Ni tín đồ đang cần hơn bao giờ hết một vị lãnh đạo sáng suốt gương mẫu suốt đời tận tụy hy sinh cho đạo pháp như Hòa thượng. Hòa thượng ra đi, trong lúc đất 
nước đang rẽ vào khúc quanh lịch sử, đang cần những người con yêu, suốt đời không biết đến hận thù, luôn luôn sẵng sàng dang tay ra để liên kết những bàn tay của những anh em cùng chung một mẹ, bất luận từ đâu, miễn là biết thương mẹ, thương mẹ Việt Nam.
Kính bạch Giác linh Hòa thượng cố Viện trưởng,
Giờ đây, Hòa thượng vĩnh viễn đi vào trong vắng lặng, không một điệp văn bằng ngôn từ nào nữa của Hòa thượng sẽ phát ra. Nhưng cuộc đời của Hòa thượng là một thông điệp lớn. thông điệp ấy nhắn nhủ với chúng tôi những gì đây trong giờ phút vĩnh biệt lần cuối này? Phải chăng Hòa thượng đang bảo với chúng tôi, tất cả những người có mặt hôm nay ở đây và những người vắng mặt nhưng lòng vẫn tiếc thương hướng về Hòa thượng, rằng :
- “Hãy gieo nhân lành mà không cần nghĩ đến quả, vì chính nhân chứ không phải quả mà cuộc đời trở thành đẹp đẽ, có giá trị”.
Rằng : - “Những người con chung của đức Từ phụ Thích Ca hãy thương yêu nhau như anh em ruột thịt để nền thống nhất của Phật giáo Việt Nam được trường tồn. hãy đặt đạo pháp lên trên tất cả mọi nguyện vọng, xu hướng riêng tu, để phục vụ dân tộc, nhân loại và đạo pháp một cách hữu hiệu”.
Rằng : “Những người con chung của mẹ Việt Nam hãy xóa bỏ hận thù, xích lại gần nhau hơn, để xây dựng lại đất nước thân yêu sau một phần tư thế kỷ bị chiến tranh tàn phá tan hoang, và cùng nhau nổ lực đưa dân tộc đến bến vinh quang”.
Thôi từ nay xin Hòa thượng hãy an nghĩ, xin Giác linh Hòa thượng hãy tiêu diêu miền cực lạc. Chúng tôi có lắng nghe rõ bản thông điệp của đời sống Hòa thượng rồi. Nó đang âm vang trong tai chúng tôi, nó đang sống dậy trong lòng chúng tôi, nó sẽ thúc đẩy chúng tôi mạnh bước trên con đường hóa giải mà Giáo hội đã vạch 
sẵn, mà Hòa thượng đã đi được một đoạn dài, và chúng tôi nguyện sẽ tiếp tục đi cho đến đích.
Nam mô Tây phương Giáo chủ Đại từ, Đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật chứng minh.
 
 
 
*
 
/193
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »