
Hòa thượng Đắc Ân (1873 – 1935)
Chùa Quốc Ân – Huế
Hòa thượng là người dòng họ Đặng, húy Văn Định, sanh năm Quí Dậu (1873), tháng 11, ngày 15, nguyên quán tỉnh Quảng Ninh, huyện Phong Lộc, tổng Thuận Lý, xã Đức Phổ.
Năm 10 tuổi (1883), Hòa thượng vô ở điệu chùa Linh Mụ được ban Pháp danh Như Thông.
Năm 22 tuổi thọ Cụ túc giới tại trường kỳ chùa Báo Quốc Huế, do ngài Hải Thuận Diệu Giác làm đàn đầu Hòa thượng.
Năm 39 tuổi, tháng hai Hòa thượng về Quốc Ân, tháng mười đắc Pháp với ngài Thanh Hi trụ trì chùa ấy, được pháp hiệu là Đắc Ân đại sư.
Năm 42 tuổi ngài Thanh Hi tịch (1914), Hòa thượng bắt đầu sung chức tọa chủ chùa Quốc Ân. Một năm sau, năm ấy Hòa thượng được 43 tuổi, Hòa thượng ra sức tu bổ chánh điện.
Năm 44 tuổi, (1917) Triều Khải Định, thầy được Bộ lễ bổ cử làm trụ trì chùa Linh Mụ.
Năm 52 (1924) làm Đệ Tam tôn chứng trường kỳ chùa Từ Hiếu Huế.
Năm 54 tuổi làm lại nhà đông, năm 58 làm lại nhà tây.
Trong tờ trình của Thượng thư Bộ Lễ Nam triều gửi cho tên Khâm sứ Trung Kỳ ngày 19 Juin 1924, tất cả Tam sư Thất chứng đều để thế danh; thì tên Ngài là Đặng Kỳ Định, trú trì chùa Thiên Mụ, làm Đệ Tam tôn chứng. ( B.A.V.H 1924, tr.330).
Bước qua 62 tuổi, ngày 12 tháng ba, năm 1935 thầy hốt nhiên phát bệnh, rồi mỗi ngày một nặng thêm, thuốc chữa không khỏi, đến 4 giờ sáng ngày 26 tháng ba, thầy thị tịch một cách tỉnh táo. Thọ 62 tuổi và 38 hạ lạp.
Tháp của Hòa thượng được tôn tạo trong khuôn viên Tổ đình Quốc Ân – Huế.
Tưởng niệm
Thầy là người dòng họ Đặng, sanh năm Quí Dậu, tháng 11, ngày 15, nguyên quán tỉnh Quảng Bình, huyện Phong Lộc, tổng Thuận Lý, xã Đức Phổ.
Năm 10 tuổi, thầy vô ở điệu chùa Linh Mụ. Năm 22 tuổi thọ Cụ túc giới tại trường kỳ chùa Báo Quốc Huế, do ngài Diệu Giác làm Hòa thượng. Năm 39 tuổi, tháng hai thầy về Quốc Ân, tháng mười đắc pháp với ngài Thanh Hi Trụ trì chùa ấy, được Pháp hiệu là Đắc Ân đại sư, qua năm 42 tuổi ngài Thanh Hi tịch, thầy bắt đầu sung chức Tọa chủ chùa Quốc Ân (cho đến bây giờ). Một năm sau, năm ấy thầy được 43 tuổi, thầy chỉ locông tu bổ chánh điện. Năm 44 tuổi, thầy được bổ cử làm Trụ trì chùa Linh Mụ, năm 52 làm đệ tam tôn chứng trường kỳ chùa Từ Hiếu Huế, năm 54 tuổi làm lại nhà đông, năm 58 làm lại nhà tây.
Bước qua 62 tuổi, ngày 12 tháng ba, thầy hốt nhiên phát bệnh, rồi mỗi ngày một nặng thêm, thuốc chữa không khỏi, đến 4 giờ sáng ngày 26 tháng ba, thầy thị tịch một cách tỉnh táo.
Được tin ấy, ông Chánh Hội trưởng Hội Phật học liền tin cho các hội viên ở Huế và các tỉnh hay. Chiều ấy khi chín giờ Ban Trị sự và hội viên ở Huế đến dự lễ nhập quan.
Tối mồng một tháng tư (13 mai 1934) khi tám giờ rưỡi, Hội làm lễ cầu siêu tại hội quán, có các thầy chứng minh đạo sư của hội quán là thầy Tăng Cang Diệu Đế, thầy Trụ trì Linh Quang, thầy Trụ trì Túy Ba, thầy Trụ trì Tây Thiên và thầy Trụ trì Tường Vân đến dự lễ, đệ tử và bổn đạo chùa Quốc Ân đến dự lễ cũng đông.
Đến ba giờ chiều ngày mồng chín tháng tư (21 mai 1934) ông Chánh Hội trưởng và các hội viên ở Huế đến tại chùa đi lễ điếu.
Qua tám giờ ngày 17 tháng tư (29 mai 1934) trong chùa làm lễ điện. Mười giờ chư sơn hội hiệp hơn 70 thầy, y hậu nghiêm trang sắp hai hàng đứng tụng kinh. Mười hai giờ lễ yết Phật, yết Tổ. Một giờ kém năm phút, các hội viên hiện diện ở Huế làm lễ đưa. Đúng một giờ cúng lễ phát hành.
Trong khi nhà trong đương triệt linh sàng, thời ở ngoài rạp, các thầy trong sơn môn y hậu chỉnh tề sắp hàng hai, đứng hơn một trăm người, mỗi thầy cầm một cái bông sen hoặc trắng hoặc đỏ, thầy Trụ trì chùa Linh Quang (chấp lịnh) đánh ba hồi báo chúng rồi, thầy Trụ trì chùa Diệu Đế (chủ sám) bắt đầu niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, cả thảy đều niệm theo, tiếng niệm Phật nghe râm rầm vang lừng cả một đầu núi, người đi coi chật ních, khi trước chen chúc ồn ào chừng nào đến bây giờ càng im lặng chừng nấy, ai ai đều có vẻ cảm động lạ thường, tợ hồ tai nghe tiếng niệm Phật, mắt trông rõ quan tài, cảnh tượng ấy như đã làm cho người đương mơ mộng chợt
tỉnh giấc vô thường, hưởng sự tiêu diêu trong cõi Tịnh. Hay thay tiếng niệm Phật! Khéo an ủi tâm người trong những lúc sầu khổ.
Lúc đó, các người âm công, khăn áo chỉnh tề vào bái quan, rồi động quan, đưa quan tài ra cửa nhà tây. Chư sơn bây giờ đã theo ra ngoài cửa, uy nghi chỉnh túc. Sắp đứng hai hàng niệm Phật, các người bổn đạo, trăm ngàn con mắt đều chăm vào nơi cửa để trông quan tài.
Khi ai nấy đều ra khỏi cửa, thời bắt đầu khởi hành. Từ ngang lề đường kể vô, đầu hết 6 người cầm 6 bức trướng của bổn đạo, tiếp đó một cái bàn sơn son chưng bông đèn, trên treo bức nghi thêu bốn chữ “A Di Đà Phật” của Hội Phật học, dưới bức nghi lại kèm thêm trướng liễn, sau đây có hai thầy mặc y hậu, thổi pháp loa, rồi đến cái linh phan của thầy, và những người cầm trướng liễn, trong hàng trướng liễn có hai câu này đặc sắc hơn cả:
Huỳnh điệp không hoa tinh thế mộng
Sơn vân thủy nguyệt ngộ tiền thân. (câu này của thầy Vạn Phúc)
Sắc tướng bổn không, nhậm vạn khứ lai vô quái ngại
Nhơn duyên như hữu, viên dung sự lý khế chơn thường.
(câu này của thầy Từ Quang)
Kế đó có 4 thầy mặc áo bá nạp đội mũ tỳ-lư đánh trống đánh bạc và tài tử thổi kèn. Tiếp đến bàn lục giác kết bằng lá trong đó có để tượng đức Quan Âm và các thầy chư sơn mặc y hậu đi hộ niệm. Đến một lớp đồng ấu mặc đồ mã tiên cầm lư, phủ phất, quạt lông … Tiếp đó cũng một cái bàn vuông, kết lá, trong để linh vị của thầy, theo sau một đội âm nhạc khăn đen áo dài vừa đi vừa đánh thổi. Rồi đến thầy Trụ Trì chùa Tường Vân (chủ sám) và tám thầy kinh sư, sau tám thầy kinh sư có các thầy mặc y hậu cầm
trường phan, tích trượng … Tiếp đó có các thầy chứng minh đạo sư Hội phật học. Các thầy Tăng Cang Trụ trì ở Quảng Nam và các bực lão thành trong sơn môn Huế đồng đi hộ niệm. Kế đến các hiếu đồ đi sau bàn linh dư, cùng bổn đạo đi đưa đông lắm. Người ngoài đi coi tuy đông nhưng đều có trật tự không ồn ào.
Bốn giờ chiều đến huyệt, hiếu đồ làm lễ đản quan nhập tháp xong xuôi, rồi mới thỉnh chơn linh về chùa an vị.
Thế là từ nay trong sơn môn ở Huế mất hết một vị danh đức, mất hết một nhà mô phạm cho những hàng hậu tấn.
Hội Phật học chúng tôi cũng mất hết một vị chứng minh đạo sư.
Đối với người thời thầy có tâm chí dắt dìu làm cho ai ai cũng phát khởi tín tâm quy hướng Phật pháp, đối với mình, ngoài công việc sửa sang chùa chiền, thầy lấy sự chuyên tu Tịnh Độ làm căn bản, mình tu lại dạy người tu, hằng ngày không trễ nãi.
Hội chúng tôi sở dĩ thỉnh thầy làm chứng minh đạo sư là vì đã xét biết rõ ràng cho chí hướng của thầy không trái với Phật pháp, không trái với bổn nguyện của Hội chúng tôi.
Ngày nay thầy thị tịch trông lại trong sơn môn, ngó lại chùa chiền quang rạng, nghĩ đến công trình vĩ đại của Hội sau này, chúng tôi không khỏi bùi ngùi cảm tiếc.
Nhưng dầu sao chúng tôi cũng cứ trông mong nơi thầy vì chúng tôi chắc rằng hiện nay thầy đã vãng sanh về Tịnh Độ và đã thân nghe đức Phật A Di Đà thuyết pháp. Khi ở Tịnh Độ, thành đạo chứng quả rồi, tất nhiên thầy cũng trở lại trong cõi Ta Bà này hóa độ chúng sanh và giúp đỡ Hội chúng tôi hoằng dương Phật pháp.
*