
Hoà thượng Mật Khế (1904 - 1935)
Chùa Trúc Lâm – Huế
Hoà thượng Mật Khế sinh năm Giáp Thìn, niên hiệu Thành Thái thứ 16 (1904) tại làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Năm lên 9 tuổi (Quý Sửu 1913), vừa lúc Ni sư Diên Trường dựng xong chùa Trúc Lâm ở làng Dương Xuân Thượng và thỉnh Hòa thượng Giác Tiên về làm trú trì, Ngài theo Hòa thượng làm tiểu đồng hầu hạ.
Năm 19 tuổi (Quý Hợi 1923) Ngài được Hòa thượng Giác Tiên chính thức thế độ, ban cho pháp danh Tâm Địa, pháp hiệu là Mật Khế. Từ đó Ngài cùng các Pháp hữu Mật Nguyện, Mật Hiển và Mật Thể là những đệ tử lỗi lạc nhất của Hòa thượng Giác Tiên và là những trụ cột về sau cho phong trào chấn hưng Phật giáo.
Cùng năm đó (1923), Hòa thượng Giác Tiên tổ chức Đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu do Hòa thượng Tâm Tịnh làm Hòa thượng truyền giới. Ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc gới tại Đại giới đàn
này. Ngài tỏ ra là người xuất sắc nhất trong hàng các giới tử, nên được chỉ định làm thủ chúng Sa di. Sau khi thọ giới, Ngài được Hòa thượng Tâm Tịnh ban thưởng cho một cà sa và một bình bát là hai vật thiêng liêng nhất, quý trọng nhất của người xuất gia tu hành.
Năm Bính Dần (1926) Ngài 22 tuổi, được Bổn sư gửi vào Bình Định thọ giáo với Quốc sư Phước Huệ tại chùa Thập Tháp. Quốc sư Phước Huệ là vị Cao Tăng nổi tiếng bác thông kinh luận vào bậc nhất thời bấy giờ.
Năm 1929 Hòa thượng Giác Tiên mở Phật học đường tại chùa Trúc Lâm và vào Bình Định thỉnh Quốc sư làm chủ giảng. Ngài Mật Khế lại quay về chùa cũ tiếp tục học.
Năm Nhâm Thân (1932) hội An Nam Phật học được thành lập và tạp chí Viên Âm được xuất bản. Trong những ngày đầu mới hoạt động, hội có những buổi diễn giảng Phật pháp tại chùa Từ Quang, chính cư sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám và Ngài đã thay phiên nhau làm Pháp sư. Đó là hình ảnh đẹp nhất về sự cộng tác của một tại gia và một xuất gia trên con đường phụng sự đạo pháp tại đất Thần kinh.
Năm Quý Dậu (1933), Hòa thượng Giác Tiên ủy cho Ngài mở trường Tiểu học Phật học tại chùa Vạn Phước, làm nơi tham học cho hàng Sa Di các chùa trong vùng. Số học Tăng bấy giờ được năm mươi người. Năm 1936, sau khi Ngài mất, trường được dời về chùa Báo Quốc.
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài lại cùng Bổn sư mở trường An Nam Phật học tại chùa Trúc Lâm, thu nhận bước đầu năm mươi học Tăng. Ngài là một trong những giảng sư hăng hái và tận tụy của trường. Những bài giảng của Ngài trên diễn đàn ở chùa Từ Quang như “Tam quy ngũ giới”, “Trạch pháp tu tâm”, “Thanh văn thừa” v.v. giúp cho người học Phật bước đầu tìm hiểu giáo lý sơ đẳng, đều được in lại trong tạp chí Viên Âm, phổ biến khắp nơi.
Cùng năm đó, Ngài cùng Hòa thượng Trí Độ vào Quảng Ngãi dự Giới đàn Thạch Sơn với tư cách phóng viên của báo Viên Âm.
Bước đầu khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo, các vị trong An Nam Phật học, Tăng Ni cũng như cư sĩ, đều chung một ý muốn phải có một sự kiện gì thật nổi bật để gây được tiếng vang trong dư luận toàn quốc và làm động cơ thúc đẩy phong trào chấn hưng Phật giáo tiến mạnh khắp các tỉnh, khắp cả ba miền Nam Trung Bắc. Cái sự kiện mà mọi người mong muốn đó là sẽ tổ chức một đại lễ Phật đản vào dịp mồng 8 tháng 4 năm Ất Hợi (1935) thật vĩ đại, thật trang nghiêm và thật rầm rộ.
Một trong những người góp nhiều công sức cho việc tổ chức đại lễ ấy là Ngài Mật Khế. Ngài đã để ra nhiều tuần lễ, đi khắp các chùa, các tự viện tại kinh đô Huế và cả tỉnh Thừa Thiên vận động, thuyết phục giới Tăng sĩ hưởng ứng và dành sự ủng hộ toàn diện cho buổi lễ. Với tư cách là Tổng Thư ký của Sơn môn Thừa Thiên, Ngài đã làm việc tích cực, quên ăn quên ngủ, quá sức chịu đựng, nên Ngài ngã bệnh nặng.
Ngày mồng 8 tháng 4, tức 15-5-1935, trong lúc đại lễ Phật đản được cử hành trọng thể tại chùa Diệu Đế có sự tham dự của vua Bảo Đại là Hội trưởng danh dự của Hội An Nam Phật Học, thì tại chùa Trúc Lâm, Hòa thượng Giác Tiên đã không dự lễ, mà ở lại ngồi bên giường bệnh của người đệ tử thân yêu đang trong giờ phút cuối cùng. Hòa thượng Giác Tiên đã sai thị giả lấy bút mực, tự tay viết bài kệ:
心地光含法
心地光含法性圓
西來妙旨顥南天
豁然直撤曹溪路
免在靈平五十年
Phiên âm:
Tâm địa quan hàm pháp tính viên
Tây lai diệu chỉ hiểu Nam thiên
Hoạt nhiên trực triệt Tào Khê lộ
Miễn tại linh bình ngũ thập niên.
Trần Quang Thuận dịch:
Cõi tâm bao hàm pháp giới tính
Trời Nam sáng tỏ ý Tây truyền
Bỗng nhiên thấy triệt Tào Khê lộ
Khỏi mất công dài năm chục năm.
Viết xong Hòa thượng trao cho Ngài. Đọc xong, Ngài nhắm mắt chiêm nghiệm. Mười lăm phút sau, Ngài thở hơi cuối cùng, hưởng dương 31 tuổi đời. Ngày an táng Ngài, một người bạn chí thân là cư sĩ Vân Đàn điếu một đôi câu đối như sau:
Rừng Mai đạp tuyết, cay đắng trải bao phen, cơ hóa độ còn nhiều, hy vọng chứa chan, tằm kéo tơ lòng thêu sử Phật.
Sàng Trúc Lâm trổ hoa, tỉnh mê trong nửa kiếp, tình tương tri quá nặng, sầu trường man mác, quyên rơi giọt lụy gọi hồn thiêng.
Đúng như cư sĩ Vân Đàn đã nói, Ngài mất quá sớm, đang thời thanh niên, chứa đầy nhựa sống, hăng say hoạt động. Hội Phật học đặt nhiều hy vọng Ngài sẽ trở thành cột trụ cho Đạo pháp trong tương lai. Nhưng than ôi! Ngài đã sớm lìa trần, để lại bao thương tiếc cho mọi người. Tuy hội An Nam Phật Học chỉ mới hoạt động được ba năm, nhưng ngay từ những ngày đầu, Ngài đã hiến dâng tất cả tài năng và sức lực cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Dù công nghiệp chưa nhiều, thành tích còn khiêm tốn, những gì Ngài đã hiến dâng đóng góp cho đạo pháp đều là những viên đá nền móng trên đó những người đi sau xây dựng lên tòa lâu đài Giáo hội ngày nay vậy.
1.
Tưởng niệm Thầy Mật Khế
(của Hội An Nam Phật học Huế)
Thầy Mật Khế người làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Con nhà họ Lê, thầy xuất gia năm 9 tuổi, ở tại chùa Trúc Lâm.
Thầy tuy tuổi còn nhỏ mà có khiếu thông minh, trong hàng anh em đồng học ai cũng nhường thầy là người xuất chúng. Cha mẹ thầy cũng có đạo tâm nên cho thầy xuất gia sớm. Thầy thọ học với ngài Giác Tiên, Trụ trì chùa Sắc tứ Đại thánh Trúc Lâm.
Ngài Giác Tiên từ khi nhận thầy làm học trò, xét biết thầy là một người rất thông tuệ, nên năm thầy 19 tuổi, ngài thế độ cho và đặt Pháp danh là Tâm Địa, Pháp hiệu là Mật Khế
Cũng trong năm ấy, thầy Mật Khế thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Từ Hiếu, do ngài Tâm Tịnh chùa Tây Thiên làm Đường đầu Hòa thượng.
Ngài Hòa thượng lấy thầy Mật Khế làm Thủ Sa-di và phú cho y và bát. Từ khi thầy lãnh y và bát rồi thì sự tham học của thầy càng tăng thêm. Lúc bấy giờ thầy lại vào học tại chùa Thiên Hưng. Trong sơn môn nhiều người nhận thầy là bậc anh tài xuất trần.
Năm 23 tuổi, thầy cũng xin phép ngài Giác Tiên vào chùa Thập Tháp (Bình Định) tham học thêm với ngài Hòa thượng Phước Huệ. Ngài Phước Huệ thường rất khen ngợi thầy và anh em đồng học đều kính phục thầy.
Thầy thường có chí chấn chỉnh Phật học và tham cứu kinh luật rất tinh tường. Chính thầy đã hết lòng giúp đỡ cho Phật học Hội và là Giảng sư của Hội.
Năm 1933, các ông Hội viên mượn chùa Vạn Phước để thiết trường học, thầy lại tận tâm tận lực dạy vẽ, dắt dìu các bậc Sa-di.
Chí hướng Bồ-đề của thầy lúc nào cũng hăng hái, khi Phật học Hội thành lập, thầy thấy người ham học Phật càng ngày càng nhiều nên thường đi các nơi hoằng pháp.
Tại Đà Thành (Tourane) hiện nay nhiều người nhờ thầy mà am hiểu Phật pháp; tại Huế thời biết bao nhiêu người nhờ thầy mà phát Bồ-đề tâm.
Hiện nay có nhiều người, trước kia theo các môn học thuyết khác rồi chấp ý kiến của mình mà bài bác đạo Phật, sau nhờ thầy phương tiện giảng diễn Phật lý cho, rồi họ đều xu hướng về Phật học cả.
Tiếc thay ! Đương lúc hoằng dương Phật pháp mà thầy Thích Mật Khế đã vội lìa cõi Ta Bà mà về miền Cực Lạc !...
Trước khi lâm chung 15 phút, thầy bảo đem bức tượng Phật A Di Đà để trước mắt, thầy liền chắp tay xá rồi niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”. Khi ấy ngài Giác Tiên vào phú cho thầy một bài kệ:
心 地 光 含 法 性 圓
西 來 妙 旨 顯 南 天
豁 然 直 徹 曹 溪 路
免 在 靈 平 五 十 年 .
Phiên âm: Tâm Địa quang hàm pháp tánh viên,
Tây lai diệu chỉ hiển nam thiên,
Hoát nhiên trực triệt Tào Khê lộ.
Miễn tại linh bình ngũ thập niên.
Tạm dịch: Tâm địa sáng trong, tròn pháp tính
Tây lai diệu ý rạng ngời Nam
Tào Khê một mạch ngay liền đến
Khỏi phải lênh đênh năm chục năm.
Khi thầy lãnh thọ bài kệ rồi thì vin lấy bức tượng A Di Đà để lên trên mặt, tinh thần vui vẻ … rồi thị tịch! …
Thầy tịch vào lúc tám giờ ngày mồng tám tháng tư (10 mai 1935) nhằm ngày sinh nhật đức Thế Tôn, hưởng thọ 31 tuổi.
2
Viếng bạn đạo Mật Khế
(Của Hòa thượng Bích Phong)
Đương thời lộc giả, độc đắc giải danh, kỷ niên lai tùy chuyển pháp luân, chính hỷ quần sanh đa ngưỡng mộ.
Thử nhật tòng lâm, cang phùng khánh tiết, thiên tài hạ trùng quang Phật nhật, hồ nhi lạc quốc thúc tiên đăng.
(Đương lúc vườn nai, riêng được tiếng giỏi, mấy năm theo quay xe pháp, chính vui quần sanh nhiều ngưỡng mộ.
Ngày này tòng lâm, vừa gặp khánh tiết, nghìn thuở rồi trời nhật sáng lại, sao mà Lạc quốc bỗng trước lên.)
*