Chương II
I. PHẨM TỰA ( phẩm thứ nhất)
1. Trong phần trình bày của tập sách này chỉ nhấn mạnh phần tư tưởng mà khôn đào sâu các chi tiết. Sự phân tích một số chi tiết, nếu có, là để hỗ trợ vào việc soi sáng diệu nghĩa. Diệu nghĩa ấy là thực tướng vô tướng,hay gọi là nghĩa Nhất thừa, thống nhất các quan điển giáo lý dị biệt. Ý nghĩa này còn được gọi là “khai quyền hiển thực” hay “hội tam quy nhất”.
2. Hầu như một vài nguyên bản không có phẩm Tựa. Điều này cho phép nghĩ rằng, có thế phẩm Tựa được các Tổ sư người Hoa thêm về sau, do vì lời văn Hán ngữ của phẩm kinh này hoa mỹ và nhuyễn hơn các phẩn sau, và đúc kết được toàn kinh.
3. Tư tưởng:
- Hình thức câu hội của thính chúng đã được kinh xếp đặt theo thứ tự Thanh văn, Bồ tát, chư Thiên và loài Người, mà không theo thứ tự thông thường khác. Thứ tự này đã nói lên trọng điểm giáo lý của Pháp hoa là Bồ tát đạo hướng đến Phật trí ( Bồ tát ngồi ở giữa thính chúng).
Hàng Thanh văn là đối tượng chính của kinh này, gọi là chúng “đương cơ” vân tập trước;hàng Bồ tát là chúng “ hộ trì” vân tập giữa; chư Thiên, loài Người là chúng “kết duyên” vân tập sau cùng.
Như thế, giáo nghĩa trọng tâm của Pháp hoa là giáo nghỉa Lục độ Ba-la-mật của Bồ tát hay gọi là giáo nghĩa của Duyên khởi và Tứ đế được hành ở cấp độ rốt ráo với đại nguyện độ sinh. Tại đây ý nghĩa khai, thị, ngộ, nhập đã bắt đầu hiển lộ.
* Phật tri kiến là tri kiến giải thoát ở cuối đường Lục độ Ba-la-mật (khai thị).
* Tự mình thấy rõ điều đó là ngộ Phật tri kiến.
* Hành viên mãn Lục độ để thành tựu trí tuệ vô ngã, viên mãn với tâm đại từ đại bi là nhập Phật tri kiến.
- Ý nghĩa của Vô Lượng Nghĩa?
Pháp hoa đề cập đến kinh “ Vô lượng nghĩa” mà không lập lại nội dung kinh “ Vô lượng nghĩa”.
Tưởng cũng nên nhắc lại một vài nét chính của kinh Vô lượng nghĩa, một tập kinh mỏng.
* Vô lượng nghĩa giới thiệu thực tướng của các pháp. Thực tướng đó là vô tướng. Do vì dục vọng của chúng sinh là vô lượng và bất đồng, do vì căn trí của chúng sinh bất đồng nên Thế Tôn nói vô lượng pháp để độ. Do vì có vô lượng pháp nên có vô lượng nghĩa. Vì thế, vô lượng nghĩa phát xuất từ một pháp, pháp đó là thực tướng vô tướng.
* Thế Tôn nói pháp lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối đều đầy đủ sơ thiện, trung thiện và hậu thiện, suốt bốn mươi lăm năm hóa độ.
* Do vì có vô lượng nghĩa nên cùng một danh từ mà dạy trong nhiều lúc khác nhau cho các căn cơ khác nhau thì có ý nghĩa khác nhau.
* Thiền định là pháp trú của Bồ tát và là sức mạnh của Bồ tát. Trí tuệ là linh hồn của Bồ tát…
Vô lượng nghĩa nói lên thực nghĩa thì thoát ly ý nghĩa. Thoát ly nghĩa là thoát ly niệm, thoát ly hết thảy ngã tưởng. Thoát ly hết thảy ngã tưởng thì thật tướng vô tướng hiển bày. Thực tại vô ngã tướng đó là nơi chư Thanh văn và Bồ tát cần thể nhập. Thể nhập thực tại ấy là nhập Phật tri kiến. Đây là ý nghĩa của “ nhập vô lượng nghĩa xứ định”. Trước và sau khi nói Pháp hoa, Thế Tôn đều nhập Vô lượng nghĩa xứ định. Xuất khỏi định này Thế
Tôn mới tuyên thuyết Pháp hoa. Đây là ý nghĩa Pháp hoa là tiếng nói của thực tại Vô ngã. Nói khác hơn, hình ảnh nhập Vô lượng nghĩa xứ định là hình ảnh đích thực nói lên thực tướng vô tướng hay thực nghĩa của Pháp hoa; nhưng vì thính chúng thiếu điều kiện về định, tuệ để nghe và hiểu tiếng nói cô ngôn ấy, nên Thế Tôn phải phương tiện chuyển dịch sang ngôn ngữ khái niệm của loài Người.
- Ý nghĩa hào quang phóng ra từ lông trắng giữa chân mày: Nikàya có đề cập đến tướng hào quang này. Một lần Tôn giả A-nan bạch: “ Thế Tôn làm thế nào để chuyể âm thanh của Thế Tôn đi xa ra ngoài mười nghìn thế giới?” – Thế Tôn dạy: Trước tiên phóng ra một luồng hào quang từ giữa chặn mày chiều khắp vô lượng thế giới, sau đó âm thanh sẽ được chuyển đi xa như ý muốn theo luồng hào quang.
Như thế biểu hiện của hào quang ấy là biểu hiện của trí tuệ Như Lai, trí tuệ thấy rõ thực tướng khắp mười phương thế giới, thấy rõ như thật toàn thể pháp giới như Thập Như Lai lực diễn đạt.
- Văn Thù Sư Lợi Bồ tát:
Bồ tát là biểu tượng của trí tuệ Phật, nguồn giác. Do đó, Pháp hoa giới thiệu như là một chứng nhân của lịch sự,tuyên thuyết diệu pháp trong quá khứ hiện tại và trong cả tương lai.
- Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh:
Kinh chép có đến 20.000 Đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Danh hiệu ấy là biểu tượng của nguồn giác tánh của chúng sinh. Nguồn giác tính ấy được diễn đạt tượng trưng bằng nguồn sáng của đèn, mặt trăng và mặt trời với cường độ sáng và phạm vi tỏa sáng khác nhau.
Ánh sáng của đèn biểu tượng cho trí tuệ giải thoát và khả năng độ sinh của hàng Thanh văn. Vừng sáng của trăng biểu tượng cho trí tuệ giải thoát và khả năng độ anh của Bích chi. Nguồn sáng của mặt trời biểu tượng cho nguồn giác và khả năng của chư Đại Bồ tát đi vào Phật trí. Cả ba nguồn sáng ấy đều cùng một thể đi vào nguồn tâm hay Phật trí.
- Các cõi nước của chư Phật đều cùng lúc nói Pháp hoa: Đây là ý nghĩa xác định Pháp hoa là diệu pháp, chỉ bày thật tướng vô tướng của tất cả pháp trong ba cõi,là chân lý. Vì thật tướng là vô ngã tướng, nên “một là tất cả, tất cả là một; kia chính là đây, đây chính là kia”. Chính vì thế kinh giảng Pháp hoa thì toàn bộ thế giới ngã tướng đều chấn động (cả sự và lý).
- Hình ảnh chư Phật và Bồ tát trong vô lượng kiếp tu hành và diễn pháp được thu về trong khoảng khắc hiện tại tại núi Linh Thứu; và hình ảnh vô
lượng thính chúng từ các thế giới vân tập trong khoảng không gian chật hẹp của núi Linh Thứu nói lên ý nghĩa vô ngã tính của các pháp: thời gian vô ngã và không gian vô ngã. Vì thời gian thực tính là vô ngã nên quá khứ và hiện tại là một, thời gian vô lượng và khoảnh khắc là một. Vì không gian thực tướng là vô ngã nên xa gần là một, rộng hẹp là một, kia đây là một. Vì không gian và thời gian là vô ngã nên chúng cũng dung nhiếp nhau. Tất cả pháp đều dung nhiếp nhau vô ngại.
Đây là diệu nghĩa của thực tướng được giới thiệu bằng hình ảnh (sự) mà không bằng ngôn ngữ (lý).
- Chu Phật và chư Bồ tát đều nhập chánh định trước và sau khi đã nói diệu pháp lá ý nghĩa diệu pháp chỉ được mở ra qua cánh cửa lớn thiền định (Thiền định Ba-la-mật).
- Bồ tát Đức Tạng được thọ ký thành Phật:
Trong giáo lý truyền thống Phật giáo, “tạng đức” thường chỉ cho tạng giới. Bồ tát Đức Tạng được thọ ký và biểu tượng xác nhận trí tuệ giải thoát cần được tu tập trên căn bản giới uẩn. Do giới thanh tịnh mà được tịnh. Trên cơ sở thành tựu định mà trí tuệ phát chiếu.
- Diệu Quang Bồ Tát ( Wonderful Light):
Là biểu tượng cho trí tuệ giải thoát ( Tuệ Ba-la-mật). Nương vào Tuệ ( Bồ tát Diệu Quang) mà tám người con Nhật Nguyệt Đăng Minh xuất gia và thành tựu Phật trí.
Tám người con ấy là:
* Hữu Ý ( Having – Intention): biểu trưng cho ý niệm về hữu.
* Thiện Ý ( Good – Intention): biểu trưng cho ý niệm về thiện.
* Vô Lượng Ý ( Infinite – Intention): ý niệm về vô lượng.
* Bảo Ý ( Treasure – Intention): ý niệm về trân quý (giá trị)
* Tăng Ý ( Increasing – Intention): ý niệm về tăng tiến hay về sự (toàn vẹn).
* Trừ Nghi Ý ( Doubts – Intention): ý niệm về trừ nghi (về giác).
* Hưởng Ý ( Resounding – Intention): ý niệm về âm vang.
* Pháp Ý ( Law – Intention): ý niệm về các pháp, về thực tướng.
Tám người con trên là biểu tượng cho tâm khi chứa giác ngộ thực tướng của Phật. Nhật Nguyệt Đăng Minh, trước lúc xuất gia, khi là vị vua. Tâm ấy đang còn vướng mắc vào ý niệm về hữu tướng
(ngã tướng của các pháp), vướng mắc vào ngã tưởng. Do vướng mắc vào ngã tưởng mà cái nhìn của tâm chuyển tất cả pháp giới thành ngã tưởng, dù cái nhìn ấy nhìn về giải thoát (thiện ý), về cảnh giới chân thật (vô lượng ý, bảo ý và tăng ý), nhìn về tâm giải thoát ( trừ nghi ý, hưởng ý), hay nhìn về thực tướng (pháp ý). Nhờ trí tuệ vô ngã ( Bồ tát Diệu Quang) mà tâm ấy thoát ly ngã tưởng, đi vào được trí tuệ vô ngã,thể nhập thực tướng.
Đoạn kinh thuật mối liên hệ giữa Bồ tát Đức Tạng và Bồ tát Diệu Quang trong phẩm này đã giới thiệu đủ con đường giải thoát rất là truyền thống của Phật giáo: Giới, Định và Tuệ để đi vào giải thoát và tri kiến giải thoát, Phật trí.
- Bồ tát Di Lặc:
Là vị Bồ tát cầu danh. Cầu danh ở đây là ý nghĩa vướng mắc danh tướng, vướng mắc vào ngã tướng, do đó mà Bồ tát không hiểu rõ diệu nghĩa của kinh. Nhờ nỗ lực hướng về Phật trí, hướng về thực tướng (hầu hạ chư Phật) mà Bồ tát được thọ ký tương lai sẽ thành Phật hiệu là Di Lặc ( sau thời Phật Thích Ca).
Thế là, Phẩm Tựa với khung cảnh thị hiện của Thế Tôn đã biểu hiện bằng hình ảnh – được phụ diễn với mẩu chuyện giữa Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Di Lặc – Phật tri kiến và con đường nhập Phật