Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 10: IV. Phẩm tín giải (phẩm thứ tư) (Trang 56 - 63)

Bồ tát, mà không nhập Niết bàn. Như thế, tự bản tâm, năm Tôn giả đã là Bồ tát theo quan điểm của Pháp hoa.
Những luận cứ khác đáng giá thấp về quả A-la-hán trong Nikàya và A hàm, đáng giá thấp giáo lý Tứ đế và Duyên khởi được kiết tập trong Nikàya và A hàm là những luận cứ hoàn toàn ngộ nhận mà chúng ta cần tránh.
Chỉ có hai điểm nổi bậc của Pháp hoa mà thời đại cần trầm tư là:
- Giáo lý Tứ đế, Duyên khởi và Ngũ uẩn vẫn là giáo lý nền tảng của Pháp hoa, nhưng đã được Pháp hoa giới thiệu đến chỗ uyên áo, vượt khỏi các quan điểm nhật thức của các bộ phái.
- Lý tưởng Bồ tát được xây dựng rất cao thượng, dựa vào các hạnh Bồ tát đã được kiết tập rải rác trong Nikàya và A hàm.

IV. PHẨM TÍN GIẢI (phẩm thứ tư)
( Understanding by Faith)

1. Về tựa đền phẩm kinh này
Bản dịch ra Hán văn của Pháp sư Cưu-ma-la-thập lấy nhan đề là Tín Giải (tin hiểu). Với bản dịch ra Anh văn từ Hán bản của Pháp sư Cưu-ma-la-thập thì dịch giả Senchu Murano đề
“ Understanding by Faith” (hiểu qua lòng tin). Bản dịch từ Phạn văn sang Anh văn của H.Kern đề “ Disposition” ( thú hướng, thiên hướng hay phơi bày trường hợp tin hiểu Diệu pháp). Bản dịch từ Phạn văn sang Pháp văn của Burnouf đề “ Inclination” (khuynh hướng, thú hướng).
Theo nội dung của phẩm thứ tư này thì Thanh văn và Duyên giác chưa nhập được Phật tri kiến, nên chỉ có thể biết được Phật trí qua lòng tin Thế Tôn. Do đó, nhan đề của phẩm kinh có thể được hiểu là “ Hiểu do lòng tin”. Tin hiểu Diệu pháp là tin hiểu sự thất chỉ có “ Nhất thừa”, đó là “ không tướng” được đón nhận với trí tuệ rời hết thảy ngã tưởng. Tin rằng, Thanh văn, Duyên giác và mọi chúng sinh đều có điều kiện đắc Phật trí.
Qua bốn phẩm kinh đầu, Pháp hoa đã phân biệt có một số A-la-hán giác ngộ qua tuệ căn, có một số các vị giác ngộ qua tín căn v.v… tương tự như Nikàya và A hàm cho rằng dù tu tín căn, niệm căn hay tuệ căn, định căn điều có thể đắc trí tuệ giải thoát sau cùng.
2. Tìm hiểu “ Nhất thừa” của các Tôn giả có đời sống trí tuệ:
Sau khi nghe Thế Tôn xác nhận Tôn giả Xá-lợi-phất sẽ thành Phật (điều này có nghĩa là Tôn
giả đang đi trên con đường Bồ tát dẫn đến đích điểm Phật trí cuối cùng) và nói lên ví dụ ngôi nhà lửa của ba cõi ( Dục, Sắc và Vô Sắc), các Tôn giả trí tuệ như Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Tu-bồ-đề và Ca-chiên-diên khấp khởi vui mừng, phát khởi lòng thấy tin “ Nhất thừa” và trình bạch Thế Tôn khúc tự tình tin hiểu Phật thừa của quý tôn giả. Đó là khúc tự tình của một kẻ cùng tử nói lên những mặc cảm về thân phận hèn mọn của người Thanh văn đệ tử (của toàn thể thính chúng đương thời và của chúng ta ngày nay), và nói lên giới hạn trí tuệ giải thoát của Thanh văn không nhận ra tự tâm vốn “ Nhất thừa”, và trí tuệ nhất thừa đó đang ở trong tầm tay của mình.
Các Tôn giả trí tuệ trên nói lên sự thật rằng từ thời pháp “ Sơ chuyển pháp luân” tại Lộc Uyển cho đến thời Pháp hoa cuối cùng đều hàm đủ nghĩa “ Nhất thừa”, chỉ vì các Tôn giả an phận chỉ tìm kiếm ở các pháp đó kết quả đi ra khỏi khổ đau của Tam giới mà thôi. Hệt như tâm lý của thời đại chúng ta chỉ tìm kiếm các giáo lý vô thượng của Phật các kết quả quả của Người, Trời hay xa lắm là Tu-đà-hoàn quả (nhập Thánh lưu để nghỉ mệt trong sinh tử). Vì thế Phật thừa trở thành khó ngộ và khó nhập.
Ý nghĩa sự khác biệt giữa ba thừa, do đó, dựa vào sự khác biệt của trí tuệ, ý chí, lòng khát vọng đạo quả vô thượng mà không phải đến từ giáo lý.
3. Tư tưởng
a. Câu mở đầu Phẩm kinh này là: “ Lúc bấy giờ các Tôn giả trí tuệ như Tu-bồ-đề,  Đại Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, và Đại Mục-kiều-liên…”
Anh văn:
There upon the men living the life of wisdom: Subhuti; Mahà – Kàtyàyama, Mahà-Kasyapa, and Mah à-Maudgalyàyama…
                                          (Ibid, p.80)

Có một số dịch phẩm Việt văn lại chép thành một từ ngữ “ huệ mạng Tu-bồ-đề” (theo Hán bản) và lầm tên của Tôn giả Tu-bồ-đề là Huệ mạng Tu-bồ-đề. Đây là một lầm lẫn.
Trong hàng đệ tử trí tuệ của Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất là trí tuệ bậc nhất, rồi đến bốn Tôn giả kể trên.
Tại đây, chúng ta có thể đặt ra một nghi vấn rằng: Tại sao phẩm kinh này không đề tựa là Understanding by Wisdom? Mà rằng Understanding by Faith?
Như chính bốn Tôn giả đã bộc bạch, bốn Tôn giả đã không tự tin mình có thể vào Phật trí dù có nghe Thế Tôn đề cập đến Phật trí, viện lẽ là đã già lụ khụ v.v…
Không tin mình vào được vì lý do sức khỏe, tuổi tác v.v… là tâm bị vướng mắc các ngã tưởng tế nhị, xem Phật quả như là kết quả của một nỗ lực nào đó bị ràng buộc với thời gian, không gian, tuổi tác. Chính ngã tưởng ấy  ngăn che các Tôn giả, khiến không thấy rõ Phật trí . Cho đến khi do nhờ lòng tin đặt vào Thế Tôn rất mạnh nên lúc nghe Thế Tôn và thấy Thế Tôn thọ ký  Tôn giả Xá-lợi-phất (cũng già lụ khụ như các Tôn giả) thì tâm nghi ngờ do ngã tưởng kia dựng lên sụp đổ. Ngăn che Phật trí đã sụp đổ thì Phật trí xuất hiện.
Bốn Tôn giả đã nhờ nhiều vào lòng tin Phật sâu xa của tự thân mà liễu hội được Phật trí, nên gọi là Hiểu biết qua lòng tin.
Trường hợp của Tôn giả Xá-lợi-phất thì khác, chỉ lắng nghe lời dạy của Thế Tôn mà trí tuệ giải thoát sau cùng tự thức dậy. Không phải kêu gọi, níu kéo gì đến lòng tin cả. Trường hợp này đáng gọi là Hiểu biết qua trí tuệ, liễu hội nghĩa phương tiện giáo hóa của chư Phật.
Hiểu như vậy, tâm chúng ta sẽ lóe sáng lên rằng: Chư Tôn giả được thọ ký trong các phẩm kinh đầu, có thể đến cả làng vô học, đều thấy rõ Phật trí, thấy rõ thật tướng không tướng một cách trong sáng khi được Thế Tôn trực tiếp thọ ký.
b. Câu chuyện gã cùng tử mà Tôn giả Ca-diếp trình bạch Thế Tôn soi sáng cho chúng ta thêm một nét đặc biệt của tự mình khúc nói lên.
Chỉ có mặc cảm khốn cùng ngăn cách người con khốn cùng với người cha đích thực và giàu sang. Chỉ có thế thôi! Cho đến khi tình cảm của nếp sống mới tạo nhân duyên thuận lợi cho người con khốn cùng không hốt hoảng, và hân hoan vô cùng nhận ra người cha đích thực (vị trưởng lão ấy) của mình và thừa hưởng gia tài của cải vô lượng.
Cũng thế, chỉ có một mặc cảm duy nhất, một dấu ấn duy nhất là dấu ấn ngã tưởng đã hằn sâu vào tư duy con người qua nhiều kiếp luân hồi lăn lóc, mà khiến cho người chối bỏ Phật trí, trí tuệ vô ngã, hay thực tướng không tướng đang tràn ngập, bao bọc chung quanh mình (trong tâm, ngoài thân và cả thế giới). Chối bỏ thực tướng ấy là chối bỏ Phật trí, chối bỏ người cha thương quí với một gia tài giải thoát vô lượng sẵn sàng trao liền cho chúng ta.
Chỉ thế thôi! Chỉ vì một ngã tưởng ấy thôi!
Khi nào ngã tưởng rụng đổ trong tâm mình thì liền khi đó toàn bộ thực tại giải thoát trao về mình.
Ngay cả khi gã cùng tử từ chối người cha thân của mình thì gã vẫn đích thực là con ruột của người, không thừa không thiếu gì cả. Cũng thế!
Ngay cả khi chúng ta đang ngậm ngùi với sinh tử giữa cuộc trầm luân, thì ta vẫn có trước mắt mình, trong tâm mình, Phật trí kiến và toàn bộ thực tại “ không tướng” giải thoát.
Chư đệ tử còn đòi hỏi Thế Tôn phải dạy gì khác?!Há chúng ta chưa trải qua vô lượng kiếp rồi đó sao?! Còn ngần ngại chờ đợi thời gian nào nữa mới đủ can đảm, hay hân hoan nhận lãnh cái chìa khóa cửa gia tài Phật tri kiến.
Ở tự tình khúc này, Tôn giả Tu-bồ-đề và Đại Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp, Đại Mục-kiều-liên không cảm động đến rơi nước mắt và khóc thin thíc như Tôn giả Tu-bồ-đề trong kinh Kim Cương (ở thời điểm Thế Tôn đặt tên kinh), nhưng đọc tự tình khúc này chúng ta cũng vô cùng cảm động, ngậm ngùi rời khỏi trang kinh với tâm trạng: “ Giật mình mình lại thương mình xót xa. Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường!” ( Truyện kiều – Nguyễn Du).
Quả là Diệu pháp!
Giờ chúng ta hãy trang trọng tụng đọc nhiều lần tự tình khúc thiết tha ấy của bốn đại Tôn giả trí tuệ.
“ Lúc này chúng con nghĩ rằng Thế Tôn đã chỉ dạy cho chúng con Thanh văn và Duyên giác thừa, nhưng nay chúng con biết rằng Thế Tôn đã
dạy chúng con Phật thừa từ ban đầu cho đến nay. Cho nên chúng con nói rằng các kho tàng vĩ đại của đấng Pháp vương đã đến với chúng con dù chúng con không cầu tìm, và rằng chúng con đã được tất cả những gì mà những người con của Đức Phật đáng có”.
Anh văn:
“ At that time we thought that you had taught us only the Lesser Vehicle, but now we know that you have been teaching us the Great Vehicle from the outset. Therefore, we say that the great treasures of the King of the Law have come to us althoungh we did not seek them, and that we have already obtained all that the sons of the Buddha should obtain”.
                                  (Ibid.p.485)

Những dòng kinh trên thanh lương như những dòng suối ngọc. Tuyệt vời biết bao! Với ai giác tỉnh gốc của khổ đau mà buông bỏ dục ái, hữu ái và vô hữu ái thì sẽ dễ dàng bắt gặp những giây phút được Phật thọ ký xảy đến với quý Tôn giả kể trên.
c. Chư vị Thanh văn vào những giờ phút chưa ngộ được nghĩa “ Nhất thừa”, hay trí tuệ Phật, là chỉ vì tâm bị ngăn che bởi các tập khí sinh tử thô hoặc tế. Tập khí đó là dục vọng rong ruổi theo trần cảnh như Thế Tôn khai mở ở phẩm ví
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »