tri kiến, hay còn gọi là hiểu bày thực tướng vô tướng và con đường thể nhập thực tướng vô tướng ấy.
II. PHẨM PHƯƠNG TIỆN (phẩn thứ hai)
(Expedients)
1. Ý nghĩa câu từ phương tiện
- Nghĩa phương tiện thứ nhất không phải chỉ dành riêng cho kinh Pháp hoa, mà còn toàn thể các bộ phái Phật giáo, như được diễn đạt rằng: hết thảy kinh điển điều như ngón tay chỉ mặt trăng (“ nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ”), hay giáo pháp như chiếc bè (“giáo lý như phiệt dụ giả”).
Ngôn ngữ vốn không nói lên được thực đạo. Nhưng phải dùng nó như một phương tiện thiện xảo để truyền đạt con đường đến thực đạo.
Ý nghĩa phương tiện này đã được nói đến trong A hàm, kinh A-lê-xá ( Đại i, 763b), và trong kinh Ví dụ Con Rắn ( Trung Bộ Kinh I, Nikàya), nêu ra một số ý nghĩa như sau:
* Pháp nói ra là để chỉ đường cho hành giả nương theo mà thực hiện giải thoát chứ không phải để nắm giữ,để lý luận.
* Pháp chỉ cho hành giả con đường tự mình đoạn ái, thủ, mà không phải nói ra thực tướng, Niết bàn là gì.
* Pháp cần được sử dụng như chiếc bè:
- Nghĩa phương tiện thứ hai:
* Các hình ảnh biểu hiện của khung cảnh nói pháp cũng là một hình thức diễn bày diệu phá mà hàng thượng trí có thể liễu hội.
* Cả pháp giới đang nói diệu pháp, vì cả pháp giới vốn là diệu pháp, nhưng kẻ thiếu trí tuệ thì thiếu khả năng thấy, nghe và hiểu. Chính các pháp đang tự phơi bày tính duyên sinh của chúng qua nhiều dạng thức biểu hiện.
* Sự kiện thành đạo của Thế Tôn đã nói lên diệu pháp, nhưng hàng đệ tử hữu học không nghe, không thấy, nên Thế Tôn phải phương tiện chuyển bánh xe Pháp.
- Ý nghĩa phương tiện thứ ba:
* Do vì căn tánh chúng sanh bất đồng, nên Thế Tôn đã chỉ dạy diệu pháp và con đường vào diệu pháp dưới nhiều dạng khác nhau.
* Do vì ý chí và khả năng trí tuệ của chúng sinh có giới hạn và không đồng, nên Thế Tôn thiết lập nhiều pháp tu để dẫn dắt dần từ ác đến thiện, từ hữu học đến vô học, từ tự độ đến độ tha, từ sinh tử đến giải thoát, rồi đến thể nhập pháp thân.
* Ngay cả các lời nói chỉ thật tướng, Niết bàn, Vô tướng v.v… cũng chỉ được sử dụng như
Phương tiện, bởi chúng chỉ là cái xác chết của khái niệm, nhất là chúng đang được đón nhận bởi những tâm thức đầy ngã tưởng.
2. Tư tưởng
a. Hình thức Thế Tôn chỉ rõ các nghĩa “ Phương tiện” ấy là gián tiếp nói lên thực tướng Vô tướng, hay Phật tri kiến, đồng thời hé mở cho thấy con đường đến Phật tri kiến là thể nhập qua định và tuệ, mà không bằng học hiểu của tư duy ngã tướng.
b. Đoạn đầu của phẩm kinh này ghi “ Mục đích thuyết pháp là nhằm giúp chúng sinh lìa xa lòng chấp ngã”… vừa định nghĩa thế nào là nói Pháp? Thế nào là giáo lý? Thế nào là nghe Pháp? Thế nào là hiểu Pháp? Thế nào là hành Pháp? Vừa nói lên nghĩa phương thiện thiện xảo mà Thế Tôn vận dụng trong việc giảng dạy giúp chúng sinh đoạn trừ ái, thủ để nhập Phật trí (rất phù hợp với giáo lý Nikàya và A hàm)
c. Phần tiếp theo, kinh giới thiệu gián tiếp Phật trí qua Tứ vô ngại giải, Cửu thứ đệ định, Tứ vô sở úy và Thập Như Lai lực.
d. Trí kiến Phật là trí kiến thông suốt thực tướng của vạn Pháp. Thực tướng ấy được Pháp hoa giới thiệu qua Thập như thị (như thị tướng-tánh-thể-lực-tác-nhơn-duyên-quả-báo-bản mạt cứu cánh).
Về Thập như thị, sư Trí Khải, sáng lập tông Thiên Thai, cắt nghĩa dưới hình thức “Tam quán” rằng:
* Thế giới hiện tượng của các ngã tướng là do duyên sinh nên không thật, gọi là “giả quán” (giả đế).
* Vì do duyên sinh nên các pháp vô tự tính, gọi là “không quán” (hay kho6g đế).
* “ Giả quán” và “ Không quán” không rời nhau, chỉ là một, nhưng do cái nhìn mà hiện ra hai, đây gọi là “ trung quán” (hay trung đạo đế).
Thập như thị được các loài hữu tình, Thánh, phàm nhìn thấy khác nhau,nên trở thành “ bách như thị”
* Bách như thị = thập như thị x 10 loài hữu tình.
* Thiên như thị = bách như thị x 10 căn tánh ( mỗi loài có 10 căn tánh của 10 loài).
* Tam thiên như thị = thiên như thị x 3 loài hiện hữu ( hữu tình thế gian, vô tình thế gian, khí thế gian).
Nếu như vào sat mạch ý của kinh, phẩm Phương tiện, Thập như thị có thể được hiểu giản dị hơn rằng:
- Thập như thị là 10 phương tiện biểu hiện của các pháp. Mười phương diện biểu hiện ấy đều do nhân duyên sinh, chúng là vô tự tính. Có thể gọi chúng là duyên khởi tính. Nhìn chúng dưới cái nhìn duyên sinh gọi là cái nhìn trung đạo. Thật
sự chỉ có duyên khởi mà không thật có các ngã tướng. Tất cả pháp là duyên khởi như thế, đấy là nghĩa thập như thị, bách như thị hay thiên như thị; và đấy là sự thật. Do thấy rõ sự thật đó mà lìa xa tham ái, chấp thủ, đi đến chứng ngộ Phật trí. Từ Phật trí, thật tướng hiển lộ: bấy giờ thập như thị là thật tướng.
Khi hành giả còn kẹt ái, thủ thì vô ngã, vô thường là vô ngã, vô thường của ngã tưởng. Khi hành giả đã đoạn diệt ái, thủ, thì vô ngã, vô thường là của phật pháp; duyên sinh là duyên sinh của thật pháp, mà không phải là pháp của sinh diệt.
e. Tư tưởng nổi bậc của phẩm Phương Tiện có thể được xem là những gì chứa đựng trong tám dòng kệ sau:
“ Chư Phật lưỡng túc tôn
Tri pháp thường vô tánh
Phật chủng tùng Duyên khởi
Thị cố thuyết nhất thừa.
Thị pháp trụ, pháp vị
Thế gian tướng thường trú
Ư đạo tràng tri nhỉ
Đạo sư phương tiện thuyết”.
Anh văn:
“ The Buddhas, The Most Honorable Bipedes,
Expound the One Vehicle because they know;
“ All things are devoid of substantiality.
The seed of Buddhahood comes from dependent origination”.
The Leading Teachers expound this Law with expedients.
After realizing at the place of enlightenment:
“ This is the abode of the Law, the position of the Law.
The reality of the world is permanently as it is”
( Senchu Murano, Tokyo, 1974, p.39)
Việt văn:
Chư Phật, các bậc tròn đức và tuệ
Tuyên dạy Nhất thừa vì các Ngài biết rằng:
Tất cả pháp là vô tự tính
Quả Phật là từ Duyên khởi
Bậc Đạo sư tuyên dạy Pháp với các phương tiện
Sau khi chứng ngộ nơi đạo tràng rằng:
“ Đây là chỗ trú của Pháp, là vị trí của Pháp.
Thực tại của cuộc đời là thường như vậy”.
Tám câu kệ trên xác định rõ giáo lý nền tảng của Pháp hoa Duyên khởi. Do vì vạn pháp đều do nhân duyên sinh, và do vì nhân duyên là sự thật, nên Thế Tôn chỉ nói lên một sự thật đó, chỉ giới thiệu một thừa pháp là thật tướng vô ngã tướng: Tất cả là một, một là tất cả, và tất cả là duyên sinh vô ngã. Thấy rõ sự thật đó thì minh khởi, vô minh diệt. Vô minh diệt thì hết thảy sầu,bi,khổ,ưu,não diệt.
g. Đoạn kinh tế tiếp có nói lên một điểm rất tế nhị mà cũng rất truyền thống:
“… Một số Tỷ kheo sống vào thời không có Phật hiện tiền, sau khi Ta nhập diệt có thể không tin kinh này sau khi họ đắc A-la-hán, bởi vì vào thời đó khó gặp được người giữ gìn, đọc, tụng và hiểu nghĩa kinh này. Họ sẽ có thể hiểu được khi họ gặp được một vị Phật khác”.
Anh văn:
“ … Some Bhikshus who live in a period in which no Buddha lives after my extinction may not believe this Law after they attain Arhaships because in that period it is difficult to meet a person who keeps, reads, and recties this Sùtra, and understand the meaning of it. They will be able to understand this Law when they meet another Buddha”.
(Ibid. p.30)
Một bậc A-la-hán dù đắc quả vào thời này thì vị ấy cũng đã đoạn trừ hết thảy lậu hoặc, đắc được giải thoát thân ( Vimukti-kàya) hay Niết bàn lìa sinh tử khổ đau. Vị ấy có thể không tin diệu pháp chứa trong kinh Pháp hoa, nghĩa lý nhiệm mầu của Pháp hoa, do vì không có Phật và không có kinh Pháp hoa. Thế là Pháp hoa giới thiệu Pháp thân (Dharma- kàya) và con đường thể nhập Pháp thân là phần mà các A-la-hán Thanh văn và Bích chi chưa rõ biết. Trường hợp có kinh Pháp hoa nhắc nhở đến Niết bàn tối hậu (Pháp thân) thì các vị A-la-hán ấy sẽ tin nhận. Hoặc có Phật tại thế, thì sự cách biệt giữa Như Lait rí và A-la-hán trí ( của chính các A-la-hán vừa thoát khổ) thể hiện rõ khiến các A-la-hán nhận ra còn có việc phải làm để đắc Phật trí; nói cách khác, quả vị A-la-hán Thanh văn vừa thoát khổ chưa phải là giải thoát tối hậu( chứng nhập Pháp thân).
Thế Tôn nêu lên điểm đặc biệt trên để thính chúng nhận ra cái hữu hạn của tự thân được gặp Phật và được nghe chính Phật nói Pháp hoa mà khởi hân hoan mong cầu Phật trí. Chính Phật trí mời là giải thoát tối hậu, sự thật tối hậu.
h. Đoạn kinh cuối, phần chỉnh cú, Thế Tôn thuật lại các nhân duyên thành Phật của nhiều chúng
sinh trong quá khứ: Có người vào tháp miếu chỉ có một lần xưng danh hiệu Phật một cách lơ đẵng, hoặc trẻ chơi trò xây tháp Phật v.v… tất cà điều nhờ từ nhân duyên nhỏ bé ấy mà về sau tất cả sẽ thành Phật và sẽ giáo hóa vô lượng chúng sinh.
Thế là, hầu như mọi chúng sinh lần lượt sẽ thành Phật: từ chỗ xa lạ với giác trí đi đến kết một duyên nhỏ bé với giác trí, rồi tu tập Giới, Định, Tuệ, Bồ tát đạo mà thành tựu. Điều này có nghĩa là tất cả đều có trong mình Phật tính, Pháp giới tính hay Vô ngã tính. Cũng có nghĩa tất cả đang thành Phật và sắp thành Phật; tất cả đang được Thế Tôn thọ ký thành Phật.
Các câu chuyện trong phần chỉnh cú còn có tác dụng khích lệ thính chúng khởi tâm tự tín, tin mình dễ dàng (hay không khó lắm) thành Phật để tâm hân hoan sinh khởi. Tâm hân hoan khởi thì tín khởi,khinh an, định khởi. Nhờ đó diệu pháp dễ được tiếp thu, liễu hội.
Thế Tôn dạy:
“ Những ai không học hỏi diệu pháp
Không thể hiểu được diệu pháp.
Các vị đã hiểu rằng
Chư Phật, các bậc đạo sư của đời, sử dụng các phương tiện.
Tùy theo khả năng của chúng sinh
Hãy biết rằng, khi các vị loại bỏ các nghi ngờ,
Và khi các vị có niềm vui hoan hỷ lớn,
Các vị sẽ trở thành chư Phật”.
Anh văn:
“ Those who not study this Law
Cannot understand it.
You have already realized
The fact the Buddhas, the World – Teachers, employ expedients,
According to the capacities of all living beings.
Know that, when you remove your doubts,
And when you have a great joy,
You will become buddhas!”
( Senchu Murano, Tokyo, 1974, p.45)
Tại đây, những lời dạy sau cùng của phẩm kinh Phương Tiện, hé mở hai điểm chính của giáo lý Đức Phật:
- Thái độ giảng dạy của Thế Tôn là thường khích lệ các đệ tử đi đến tự tín, tự tri;
- Sự bừng ngộ đến với tâm lý hỷ lạc, mà không phải đến với tâm lý sầu ưu. Tâm lý hỷ lạc là tâm lý của Thiền định, của sự chứng đắc thiền định. Điều