Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 31: XXV. Phẩm Quán Thê Âm (phẩm thứ hai mươi lăm) (Trang 165 - 172)

Có nghĩa là nếu người ở Ta bà thực hành Giới, Định, Tuệ (ra mắt Dược Vương Bồ tát), nếu nỗ lực thực hành và dõng mãnh tu tập thì sẽ thảnh tựu các đại định và trí tuệ vô ngã mà Bồ tát Diệu Âm đã thành tựu.
m. Nghe xong phẩm Diệu Âm Bồ tát, nhiều thiên tử được “ vô sinh pháp nhẫn”.
Các Thiên tử là các vị có thân, khẩu, ý hành thiện hạnh, phát triển mạnh thiện tâm. Do nương vào thiện tâm mà dễ phát sinh trí tuệ vô ngã, và để nuôi dưỡng trí tuệ này. Nhờ vậy mà các thiên tử khi bừng tỏ vô ngã thì liền an trú trên tâm vô ngã đó, gọi là đắc “vô sinh pháp nhẫn”, đây là yêu cầu của phẩm kinh Diệu Âm Bồ tát, tiếng nói vô ngã của pháp giới.

XXV. PHẨM QUÁN THẾ ÂM ( phẩm thứ hai mươi lăm)
( The Universal Gate of the Seeing-World-Voice Bodhisattva)
1. Danh hiệu Quan Thế Âm

Danh hiệu này đã được phẩm kinh này định nghĩa:
“ Này thiện nam! Nếu hằng trăm nghìn tỉ chúng sing đang chịu khổ đau, những chúng sinh ấy biết danh hiệu Bồ tát, hết long xưng danh hiệu Bồ tát
Quán Thế Âm tức thì Bồ tát nghe hiểu tiếng niệm ấy sẽ giúp các chúng sinh kia giải thoát khỏi khổ đau”.
Anh văn:
“ Good man! Many hundreds of thousands of billions of living beings who hear “the name of” the Seeing-World-Voice Bodhisattva and call his name with all their hearts when they are under various sufferings, the Seeing-World-Voice Bodhisattva will immediately understand their voices, and cause them to emancipate themselves “from the sufferings”.
                              (Ibid.p.287)

Theo tài liệu của tông Bát nhã, Bồ tát Quán Thế Âm có tên là Quán Tự Tại ( Avalokitesvara) và có  sức thần thông lớn có thể hành xử mọi việc cứu độ chúng sinh thoát khỏi các khổ ách. Bồ tát sau khi giải thoát hết thảy các lậu hoặc đã nhìn xuống thế gian và thấy chúng sinh khổ não là do vì chấp 5 uẩn có tự ngã, là tự ngã, trong khi chúng rỗng không tự ngã. Bồ tát Quán Thế Âm do nhờ giác ngộ vô ngã mà thấy rõ gốc của khổ đau và con đường đi ra khỏi khổ đau.
Ai mà thấy 5 uẩn là vô ngã thì sẽ thành tựu giải thoát như Bồ tát đã thành tựu.
Về ý nghĩa biểu tượng, Quán Thế Âm là biểu rõ, nghe rõ tiếng nói của cuộc đời, tiếng nói vô
ngã, vô thường và khổ đau (ba pháp ấn). Liễu hội ba pháp ấn ấy thì hành giả có điều kiện lìa xa tham ái và chấp trước 5 uẩn và thoát ly hết thảy khổ đau.
Tất cả hiện hữu, gồm cả âm thanh (sound), đều có tiếng nói thực tướng của chúng: Tiếng nói vô ngã, tiếng nói duyên sinh.
Có ý kiến cho rằng Bồ tát Quán Thế Âm tu hạnh nhĩ căn viên thông, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm. Ý kiến ấy hầu như không phù hợp với phẩm Phổ Môn này.
Phổ Môn là cửa ngõ chính từ đó tham ái chấp thủ và khổ đau vào, nhưng cũng chính từ đó tham ái, chấp thủ và khổ đau ra đi. Cánh cửa đó là 6 căn, 6 trần, và 6 thức bị chấp thủ. Hiểu như vậy là phù hợp với nội dung Pháp hoa mà khế hợp với giáo lý truyền thống được kiết tập từ Nikàya và A hàm.
2. Vô Tận Ý Bồ tát ( Endless Intent)
Có nghĩa là ý nghĩa vô hạn, khái niệm vô hạn không dứt, hay mục tiêu vô hạn. Ý nghĩa ở đây tương tự ý nghĩa của tên kinh “ Vô Lượng Nghĩa”. Sự kiện Bồ tát Vô Tận Ý muốn biết nghĩa và hạnh của Bồ tát Quán Thế Âm là biểu tượng rằng: Phải vô niệm, vô chấp (Vô tận ý) thì mới có thể hiểu và hành những gì mà Bồ tát Quán Thế Âm đã hành và thành tựu.
3. Tư tưởng
a. Kinh Phổ Môn dạy:
“ Nếu chúng sinh hết lòng xưng danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm thì liền thoát được khổ ách”. Thông thường quần chúng thường đến với Bồ tát với tâm tín ngưỡng, cầu Bồ tát cứu độ những khi gặp nguy cấp, hoặc cầu Bồ tát lấp đầy cho những mong cầu, ước vọng trần gian. Ít khi, và ít người, đến với Bồ tát như là người tìm cầu tiếng nói vô ngã và ly tham, giải thoát.
Thực ra thì lời dạy vừa trích dẫn minh định rằng: “ Nếu ai có sức định sâu (nhất tâm) từ định ấy mà khởi tưởng vô ngã, thiền quán vô ngã thì tự tâm sẽ lìa xa các phiền não, lìa xa tham, sân, si nhờ tâm giác tỉnh, hoặc do khởi tâm đại từ, đại bi mà vượt khỏi các khổ sở, ách nạn – đây là sức mạnh cảm ứng do tâm đại từ bi mà có.
b. Tương tự Bồ tát Diệu Âm, Bồ tát Quán Thế Âm ứng hiện đủ các thân tướng mà chúng sinh cần để hóa độ. Ở đâu có mặt lòng đại từ đại bi, ở đâu có mặt trí tuệ vô ngã thì ở đó vắng mặt khổ đau, ở đó được cứu khổ và được gọi là ở đó có Bồ tát Quán Thế Âm cứu khổ.
Năng lực độ khổ này một phần do giao cảm với ngoại duyên-các năng lực ở bên ngoài-một phần chính là do sức mạnh của tâm lý hành giả chuyển đổi.
Hình thái độ khổ của tiếng nói vô ngã biểu hiện qua nhiều cách thể khác nhau. Chẳng hạn:
Do vì các pháp là vô ngã tính mà con người có thể chuyển đổi si thành minh, từ vô văn đến đa văn, từ xấu đến tốt, từ bất toàn đến toàn vẹn v.v… Nhờ tự ngã của các pháp là không thật có nên có các sự kiện sáng tạo xây dựng văn hóa và văn minh con người. Nhờ từ ngã của các pháp là vô ngã, nên cuộc đời mới dựng nên niềm tin “ sinh con theo ý muốn” (trai hay gái), niềm tin cải thiện tự thân và xã hội.
c. Công đức lễ lạy Bồ tát Quán Thế Âm trong một thời công phu được ngang bằng với phước đức lễ lạy và cúng dường 60.000 Bồ tát khác. Vì sao?
Công đức lễ lạy và cúng dường chư Bồ tát khác chỉ vun trồng lòng tôn kính và tâm bố thí, giữa khi lễ lạy Bồ tát Quán Thế Âm là lễ lạy, đắm mình vào trí tuệ vô ngã. Vì thế khi Pháp hoa khích lệ người đời đi vào trí giác hơn là chỉ nuôi dưỡng một lòng tin Phật pháp.
d. Hạnh thí của Bồ tát Quán Thế Âm:
Kinh dạy: “ Bồ tát Quán Thế Âm ban cho những ai đang sợ hãi trong các ách nạn khẩn cấp niềm không sợ hãi. Cho nên, Bồ tát được gọi là “ người cho niềm không sợ hãi” ở thế giới Ta bà này”.
Anh văn:
“ This Seeing-World-Voice Bodhisattva mahàsattva gives fearlessness “to those who are” in fearful emergencies. Therefore, he is called the “ Giver of fearlessness” in this Sàha-world”.
                                   (Ibid.p.290)

Ý nghĩa đích thực của hạnh “ thí vô úy” của Bồ tát Quán Thế Âm là năng lực giác tỉnh vô ngã trong tự tâm mỗi người ban cho người ấy lòng không sợ, lòng dũng cảm. Tâm lý giác tỉnh sinh khởi tâm vô tham; tâm vô tham là tâm nhổ bật gốc rễ lòng sợ hãi (bởi gốc sợ hãi là lòng tham).
Mặt khác, nhờ trú Giới, Định, Tuệ mà tha nhân sẽ có thiện cảm giúp đỡ cho mình vượt qua được nhiều bệnh tật, tai nạn.
Người có trí tuệ vô ngã thì đã thấy ngay niềm sợ hãi là rỗng không, nên đối với người ấy, sợ hãi không có mặt.
e. Khi Bồ tát Vô Tận Ý dâng xâu chuỗi ngọc quí cúng dường Bồ tát Quan Thế Âm, đã nói: “ Xin vì lòng đại bi mà nhận chuỗi ngọc…” thì Bồ tát Quan Thế Âm mới nhận. Cử chỉ nhận xâu chuỗi ngọc một cách tế nhị, theo kinh trình bày, là vì lòng đại bi, vì sự thành tựu Bồ tát đạo của Bồ tát, mà không phải vì xâu chuỗi ngọc.
Thực hành hạnh bố thí hay thực hành tâm xả là hạnh tu vừa tự độ, vừa độ tha.
g. Xâu chuỗi ngọc được phân đôi để dâng lên Thế Tôn Thích Ca và Đức Đa Bảo là ý nghĩa thỉ giác và bản giác là một, như hơn một lần kinh đã xác nhận ý nghĩa.
h. Sự khác biệt giữa hạnh Diệu Âm và hạnh Quán Thế Âm:
Bồ tát Diệu Âm ứng hiện vô số thân chỉ để nói pháp (hành pháp thí), chỉ giữ phần khai thị.
Bồ tát Quán Thế Âm ứng hiện vô số thân tương tự, hành tài thí, pháp thí và vô úy thí, vừa khai thị, vừa chỉ đường ngộ nhập.
Phạm vi nói pháp của Bồ tát Diệu Âm thì giới hạn hơn phạm vi hành đạo của Bồ tát Quán Thế Âm: Chúng sinh khổ đau vì nhiều nguyên nhân khác nhau đều cần đến Bồ tát: Bồ tát cứu giúp về vật chất trước khi giới thiệu Chánh pháp, bởi lẽ không thể nói pháp cho một người nghe đang đói và đang khổ!
Bồ tát Diệu Âm thì khai mở về tuệ (Chánh kiến) Bồ tát Quán Thế Âm thì mở đường thực hành.
i. Bài học đại thừa mà Bồ tát Quán Thế Âm để lại:
Cách tích cực nhất là mỗi người tự hành thiền quán vô ngã, vô thường để làm bùng dậy năng lực cứu khổ vốn có trong mình.
Thể hiện lòng đại từ đại bi là một hình thức khác để khai mở năng lực cứu khổ tự thân ở trong tâm mình.
Hành hạnh của Bồ tát Quán Thế Âm là cách vừa tự giải thoát vừa truyền bá Phật giáo sâu rộng, gắn liền đạo với đời.
Nếu việc làm của cá nhân có giới hạn, thì tập thế Giáo hội (gồm tu sĩ và cư sĩ) cùng làm: Thiết lập ở bất cứ nơi nào có thể, các cơ sở giáo dục, y tế, xã hội để hộ đời.
Trên đường thể hiện hạnh Quán Thế Âm, hành giả thường làm các việc:
+ Chân quán thanh tịnh quán (He sees truth of all things and the purity of them): nhìn thấy sự thật duyên sinh và vô ngã tướng của tất cả pháp.
+ Quảng đại trí tuệ quán (He sees all things with his great wisdom): nhìn tất cả pháp với trí tuệ lớn của mình.
+ Bi quán tập từ quán ( He sees all things with his loving – kindness and compassion): nhìn thấy tất cả pháp, tất cả chúng sinh với lòng đại từ đại bi.
+ Thường nguyện, thường chime ngưỡng ( Think of him constantly, look up at him constantly): hãy thường tư duy, niệm tưởng về hạnh Quán Thế Âm, hãy trân trọng đối với hạnh ấy!
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »