Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 17: XI. Phẩm Hiện bảo tháp (phầm thứ mười một) (Trang 97 - 106)

XI. PHẨM HIỆN BẢO THÁP (phẩm thứ mười một)
( The appearance of a stùpa of treasures)

1. Từ phẩm 11 đến phẩm 22 là cảnh thuyết giảng thứ hai của thời kinh Pháp hoa. Cảnh thuyết giảng này, ngoài hội chúng có mặt trong cảnh thuyết giảng đầu, còn có sự tham thính của chư Phật và chư Bồ tát từ mười phương, và sự chứng kiến của Đức Phật Đa Bảo như một chứng nhân của lịch sử thuyết giảng Pháp hoa từ vô lượng kiếp trước cho đến nay.
Phẩm “ Hiện Bảo Tháp” diễn bày đầy hình ảnh và ngôn ngữ biểu tượng. Nội dung giáo lý của phẩm kinh chỉ được nhận biết rõ ràng qua các biểu tượng ấy. Nay với khung cảnh mới, Thế Tôn đã tiếp chỉ bày khai, thị, ngộ, nhập qua một phương thức khác: Đức Thế Tôn để thực tại tự nói lên sự thật hơn là các lời lẽ của Thế Tôn.
2. Tư tưởng
a. Tháp Đa Bảo và Thế Tôn Ba Bảo: (Many Treasures)
Đức Đa Bảo, theo hạnh nguyện, đã cùng tháp Đa Bảo xuất hiện trước hội chúng của Đức Thích Tôn để tán dương Diệu pháp và Đức Thích Tôn.
Tháp Đa Bảo: là biểu tượng cho nguồn tâm giải thoát. Nguồn tâm chứa vô lượng tâm giải thoát của Giới, Định, Tuệ và Tứ vô lượng tâm ( đại từ, bi, hỷ, xả) gọi là đa bảo. Đức Phật Đa Bảo, vị Phật từ vô lượng vô biên kiếp xa xưa, làm chứng nhân của chân lý, giữ gìn Diệu pháp trong pháp giới này, là biểu tượng của Phật tính, Pháp giới tính của chúng sinh.
Tháp báu từ lòng đất vọt ra và trú giữa hư không: Chư Tổ sư thường ví tâm như đất và gọi là tâm trưởng dưỡng vô lượng đức; như đất chứa vô lượng của cải trong lòng nó, tâm chứa tất cả tâm và tuệ giải thoát, như đất, tính vốn bền, bất động nhẫn chịu mọi ngã tướng (các thứ sạch, dơ, lửa, nước v.v…). Cũng thế, tâm bền bỉ, bất động nhẫn chịu mọi vô thường, sinh diệt, như đất bình đẳng trước mọi tướng, tâm cũng có tính bình đẳng ấy…
Tháp Đa Bảo từ lòng đất vọt ra nói lên rằng Phật trí có mặt trong tâm chúng sinh, từ tâm mà hiện. Người tìm cầu Phật trí phải quay về chính mình, chính tâm mình, mà không tìm cầu ở bên ngoài.
Tháp báu trú giữa hư không xác định thêm rằng: Tâm người, chúng sinh đầy cả ngã tưởng, nhưng cũng có mặt thường xuyên thật tướng
Không tướng. Tháp báu có Đức Đa Bảo trú là ý nghĩa trú ở không tướng của tâm, trú ở chánh niệm vô ngã, ở ngoài các ngã tưởng.
Đức Thích Tôn và đức Đa Bảo tuy thị hiện ra hai, nhưng thật sự chỉ là một, là nguồn thác trí duy nhất của tâm. Đức Đa Bảo là bản giác, chân thật tướng, Đức Thích Tôn là thỉ giác là vị chứng ngộ chân thật tướng, chứng nhập chân thật tướng.
Thế Tôn Đa Bảo xuất hiện trước hội chúng của Thế Tôn, với vô lượng chư Phật và chư Bồ tát, để tán dương Đức Thích Tôn và Diệu pháp mà Đức Thích Tôn vừa giảng dạy, đang giảng dạy, như là một sự xác chứng cao vời để thiết lập niềm tin vững chắc vào Diệu pháp cho những vị trong hội chúng yếu kém trí tuệ và cho chúng sinh về sau.
Điểm tâm lý quan trọng này đã được Thế Tôn vận dụng trong suốt thời kinh Pháp hoa. Nhờ lòng tin khởi mà hân hoan khởi, nhờ hân hoan khởi mà hỷ lạc khởi, hỷ lạc khởi thì các nghi tâm diệt, nhờ đó mà thính chúng dễ liễu hội Diệu pháp. Đây là một lối vận dụng kỹ thuật tâm lý giáo dục tuyệt vời. Như chúng ta vừa thấy, thời kinh trôi chảy đến phẩm thứ mười như là Diệu pháp chảy qua mười phẩm kinh đã
Chở đi chư vị Thanh văn trí tuệ đầy đủ Giới, Định, Tuệ với Phật trí. Giờ đây ( từ phẩm 11) phần thính chúng còn lại trí tuệ yếu kém hơn cần được Đức Thích Tôn tiếp tục mở bày “ Nhất thừa” với một kỹ thuật mở bày khác hơn: Ngài vận dụng “sự”, hình ảnh, sự thực của chính các pháp nhiều hơn là ngôn ngữ. Hình thức mở bày này sẽ đánh mạnh và sâu hơn vào tâm thức của thính chúng còn lại để có thể khơi dậy sự tin hiểu nghĩa “ Nhất thừa”. Cảnh thuyết giảng thứ hai, này tiếp diễn đến phẩm kinh 22.
b. Âm thanh vang dội của cửa pháp Đa Bảo:
Để mở cửa tháp Đa Bảo, Đức Thích Tôn thu hồi về tất cả hóa thân Phật: Đây là biểu tượng sống động, rằng phải bằng thiền định sâu nhất mới có đủ nhân duyên ( hay sức mạnh của tâm thức) để mở ra khỏi tâm thức nguồn đại tuệ (Phật trí).
Âm thanh lớn vang dội khi cửa tháp mở là biểu tượng của sự bùng vỡ của tâm thức, chiếu rọi trí tuệ vô ngã, làm sụp đổ tất cả vọng tưởng.
c. Đức Đa Bảo toàn thân không rã và phân hai tòa ngồi …
Hình ảnh thân Thế Tôn Đa Bảo không rã là biểu tượng cho Phật trí (chân tâm) là vô minh diệt, là chân thường.
Bấy giờ Đức Đa Bảo xuất hiện với thân tướng trang nghiêm của Như Lai, phân hai tòa ngồi và thỉnh mời Đức Thích Tôn cùng ngồi. Hình ảnh này nói lên ý nghĩa bản giác (được tượng trưng đức Đa Bảo) và thỉ giác ( Đức Thích Tôn) là một, đồng đẳng; quá khứ và hiện tại là một, đồng đẳng.
Đức Đa Bảo còn được hiển như là đối tượng tôn thờ của hàng tu tập theo Tín căn, tôn thờ xá lợi Phật; Đức Thích Tôn thì biểu thị cho đối tượng quy hướng của hàng tu tập Tuệ căn. Và như thế, tại đây Pháp hoa diễn bày sự thật hàng Tín căn và Tuệ căn đều vào Phật trí đồng đẳng – Hình ảnh biểu tượng này rất đáng được chú ý, bởi vì trong khoảng thời gian phát triển bộ phái chủ trương tín ngưỡng tôn thờ xá lợi Phật và phái chủ trương tôn thờ kinh Kim cang (trí bát nhã).
Hình ảnh hai Đấng Như Lai ngồi chung tòa trong bảo tháp ở giữa hư không đã xiển dương rõ ràng giáo nghĩa “ Nhất thừa”, đó là sự thật “ không tướng” và trí tuệ thể nhập “ không tướng” của Pháp hoa.
d. Toàn bộ thính chúng được đưa lên trụ giữa hư không:
Sau khi hai Đấng Như Lai vừa ngồi chung tòa, thì liền có một sự kiện khác thường xảy ra:
toàn bộ thính chúng được đưa lên trụ giữa hư không. Đây là ý nghĩa khi sự thật “ Nhất thừa” biểu hiện, thì thật tướng “ không tướng” hiển bày (hư không biểu trưng cho “không tướng”) khắp tất cả pháp, do đó toàn thể hội chúng tự tại trú giữa hư không.
 Sự kiện Đức Thích Tôn đưa toàn thể thính chúng lên trụ giữa hư không như thế còn hiển bày một khía cạnh khác của thật nghĩa: Sự và lý đều vô ngã nên sự và lý viên thông. Ở mặt lý, vì là “không tướng” nên không vướng ngại, thì ở mặt sự cũng thế, khi hàng giả đắc được trí tuệ vô ngã thì sự kiện “ sự vô ngã” sẽ xảy đến với hành giả như thính chúng ngồi lơ lửng giữa hư không vậy, bởi vì tự bản chất của “ sự” là như thế.
e. Mười phương hiện về Linh Thứu:
Sự kiện mười phương chư Phật đang cùng giảng dạy Diệu pháp cho hàng Bồ tát mà kinh gọi là các hóa Phật được Đức Thích Tôn thu nhiếp về trước khi mở cửa tháp Đa Bảo là sự kiện diễn bày thật tính, thật tướng của các pháp: “ Một” là mười phương và mười phương là “một” và là vô ngã (không tướng).
Sự diễn bày này rất “sự” và rất thực, giúp Chính chúng thấy thẳng sự vật, có điều kiện để bước ra khỏi vùng trói buộc của các ngã tưởng tế nhị.
g. Hiện tượng cõi đời chuyển thành Tịnh độ:
Khi mà mười phương hóa Phật và chư Bồ tát quyết định tụ về Linh Thứu ra mắt Đức Thích Tôn thì liền khi ấy cõi thế gian bỗng chuyển thành Cực lạc, với thế đất, thế nước, địa hình hệt của cõi nước Đức Di Đà. Đây là sự diễn bày thật tướng hay thật trí vô ngã xuất hiện thì tất cả pháp giới trờ thành cõi nước Cực lạc, Niết bàn.
Hình ảnh này của Pháp hoa thật là tuyệt thú! Vừa nói lên sự thật tâm tịnh (có mặt trí tuệ vô ngã) thì độ tịnh, vấn đề là chuyển hóa tâm thức từ các vọng tưởng thành chính tưởng vô ngã, khi tâm thức sạch bóng ngã tưởng thì Ta bà chính là Cực lạc, bởi vì khi ấy các khái niệm sạch, dơ v.v… không còn. Thoát ly khỏi hết thảy ngã tưởng sạch, dơ v.v… thì gọi là thân tịnh; thoát ly khỏi các tưởng đối đãi sinh, diệt thì gọi là chơn thường; thoát ly khỏi các tưởng về ngã và về vô ngã thì gọi là chơn ngã; và thoát ly khỏi các tưởng về khổ, lạc, thì gọi là chơn lạc. Và đây chính là Niết bàn.
Tinh thần giáo lý đó rất là người, rất là thiết thực, rất là diệu hữu và rất là trí tuệ!
Hình ảnh đó vừa tế nhị chuyển kiến thủ của những người theo tông Tịnh độ (hay tông tôn
thờ xá lợi) và của những người tôn thờ kinh Kim cương Bát nhã đương thời (đang tranh chấp) thành chính kiến về “ Nhất thừa”, rằng: chính kiến ở đây là không bài bác; không tranh chấp, thị phi; Tịnh độ ở đây chính là Ta bà của tâm rời khỏi chấp thủ các ngã tướng.
Trọn phẩm kinh này là nói tiếng nói của “ Nhất thừa” và là tiếng nói thống nhất các quan điểm dị biệt về giáo lý Phật giáo của đương thời.
Chúng tôi thiết nghĩ nét giáo lý “ Nhất thừa” này và thái độ nhận thức tu tập này của Pháp hoa đã đặt Pháp hoa vào vị trí “ vua của các pháp” (vua của các kinh). Chỉ có những nét giáo lý này nổi bật lên hẳn giữa những nét giáo lý đương thời khác, là thích đáng với danh nghĩa “ Pháp vương”
h. Lời thăm viếng: “ Ít bệnh, ít não, chúng sinh dễ độ…?”
Đây là lời thăm hỏi có tính truyền thống của chư Phật, đã được kiết tập trong nhiều kinh Nikàya và A hàm.
i. Lời hỏi của Đức Thích Tôn hướng vào thính chúng vọng từ bảo tháp:
“ Ai sẽ tuyên thuyết Diệu pháp liên hoa ở cõi Ta bà này?” Nay đúng là lúc diễn nói!
Anh văn:" Who will expound the Sùtra of the Lotus flower of the Wonderful Law in this Sahà world? Now is the time to do this!”
                                       (Ibid.p.170)
Sau câu hỏi này là Thế Tôn cho biết Thế Tôn sắp nhập Niết bàn. Câu hỏi nói lên rõ ràng thời kinh Pháp hoa có thể kết thúc ngang đây, đã trình bày đủ khai, thị, ngộ, nhập Phật tri chi kiến. Sự kiện tháp Đa Bảo vào thời điểm này cũng thế: Thế Tôn Đa Bảo đến vào cuối phẩm kinh thứ mười để xác nhận những gì Đức Thích Tôn dạy về Diệu pháp là chân thật, là sự thật của ba đời ( quá khứ, hiện tại và vị lai). Nhưng cũng tựa như kinh Kim Cương, sau khi đặt tên kinh, Thế Tôn còn dạy tiếp thêm một phần nữa vì thính chúng còn nhiều người chưa giác ngộ, tại đây Thế Tôn vẫn còn diễn bày về khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật cho đến phẩm 28.
Câu hỏi trên vừa nói thêm rằng: Những gì cần giới thiệu về Diệu pháp, Thế Tôn đã dạy đủ. Chân lý là thế! Sự thật tối hậu, “ Nhất thừa” là thế! Cảnh giới chân thật là “ không tính” hay “không tướng”! Giờ đây chư Tôn giả đã sẵn sàng lên đường hành Bồ tát đạo đi đến thể nhập Phật trí chưa? Những ai? – Thế Tôn đã rõ biết tất cả.
k. Bồ tát Đại Nhạo Thuyết ( Bodhivattva of Great Elouquence):
Thế Tôn sẽ nhập Niết bàn sau thời giảng kinh Pháp Hoa này, vì vậy sai khi Thế Tôn nhập diệt, Thế Tôn muốn có nhiều sứ giả Như Lai tiếp tục diễn giảng Diệu pháp ở giữa đời này, trong cõi Ta bà này. Hiện Ngài đang chuẩn bị thêm một số hành trang cho đoàn Như Lai sứ giả lên đường độ sinh, nên tại đây Ngài dạy chuyện với Bồ tát Đại Nhạo Thuyết.
Đại Nhạo Thuyết, còn gọi là Đại Lạc Thuyết, là tên của một khả năng biệt tài trong “ Bốn biện tài vô ngại giải” ( từ vô ngại, nghĩa vô ngại, pháp vô ngại, và biện tài vô ngại giải-còn gọi là nhạo thuyết biện tài).
Khả năng đại nhạo thuyết là khả năng trình bày giáo lý rõ ràng, minh bạch với kỹ thuật trình thiện xảo khiến người nghe vui nghe và hân hoan nghe.
Từ phẩm Tựa đến phẩm 11 này, nếu dựa vào nội dung giáo lý được chuyên chở qua những dòng kinh mà xét, thật sự đã bao gồm đủ phần Tích môn và Bản môn (theo phân đoạn kinh của Pháp sư Trí khải), đủ lý và sự, vào đủ bốn phần khai, thị, ngộ, nhập chi tri kiến rồi.
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »