Anh văn:
“ Anyone who rejoices at hearing this Chapter of the Previous Life of the Medecine King Bodhisattva and praises (this chapter), saying “ exellent”, will be able to emit the pragrance of the blue lotus flower from his mouth and the pragrance of the Cadana of Mt. Ox-Head from his pores, and obtain the merits as states above in his present life”.
(Ibid.p.279)
Nghe và hiểu phẩm kinh thứ 23 này là nghe và hiểu con đường thực hành Giới, Định, Tuệ để loại trừ tham, sân , si cấu uế ra khỏi tâm thức. Tán thán phẩm kinh này là tán thán con đường “ Tam vô lậu học” ấy, vừa nói lên rằng người nghe muốn nuôi dưỡng trí tuệ giải thoát, do đó mà miệng sẽ nói những lời trí tuệ và đúng pháp, thân sẽ làm các việc trí tuệ và đúng pháp. Đây là ý nghĩa mà kinh diễn đạt một cách biểu tượng và thi vị bằng hình ảnh tỏa hương thơm của hoa sen xanh và hương thơm chiên đàn trên núi Ngưu Đầu. Hương thơm ấy là hương ly ái, ly thủ vậy.
XXIV. PHẨM DIỆU ÂM BỒ TÁT ( phẩm thứ hai mươi bốn)
( The Wondrful-Voice Bodhisattva)
1. Các danh từ biểu tượng
+ Tịnh Quang Trang Nghiêm thế giới (All-Pure-Light-Adornment): là thế giới được trang nghiêm bằng ánh mắt thanh tịnh, biểu tượng cho thế giới của chân tâm.
+ Tịnh Hoa Tú Vương Trí Phật ( Pure-Flower-Star-King-Wisdom): Chỉ trí tuệ giải thoát sáng tỏ hơn muôn sao, rực rỡ hơn muôn hoa là biểu tượng cho Phật tính (bản giác diệu tâm).
+ Bồ tát Diệu Âm (Wondrful Voice Bodhisattva): Tiếng nói tuyệt diệu là chỉ tiếng nói của thực tướng. Các pháp tướng đều tự hiển lộ thực tướng “không tướng”, tự nói lên tiếng nói “không tướng” đó.
+ Diệu tràng tướng tam muội (Hundred of thousands of billions of great samàdhis): nghĩa là hằng trăm nghìn tỉ thiền định sâu. Chỉ đại định của chân tâm.
+ Pháp hoa tam muội ( The samàdhi of the Lotus Flower of the Wonderful Law): Khả năng định an trú nơi Diệu pháp.
+ Tịnh Đức tam muội (The samádhi of pure virtue): chỉ khả năng định an trú tịnh giới.
+ Tú Vương Hí tam muội ( The samàdhi for travelling of the King of the Star): Chỉ tâm định tự tại như các đại tinh tú di chuyển không vướng ngại.
+ Vô duyên tam muội ( The samàdhi for freedom from causality): chỉ định giải thoát không vướng mắc vào các duyên.
+ Trí ấn tam muội (The samàdhi for the emblem of the wisdom): khả năng nuôi dưỡng tuệ giác, an trú vào tuệ giác.
+ Giải nhất thế ngôn ngữ tam muội (the samàdhi by which one could understand the worlds of all living being): là định lực nhờ đó mà hiểu được ngôn ngữ của các loài chúng sinh.
+ Tập nhất thiết công đức tam muội (The samàdhi by which one could conllect all merits): là thiền định mà nhờ đó có thể gom lại tất cả công đức.
+ Thanh tịnh tam muội (the samàdhi for purity): Khả năng an trú trong vắng lặng của tâm thức.
+Thần thông du hí tam muội (the samàdhi for exhibiting – supernatural powers): định hiển lộ các thần thông.
+ Huệ cự tam muội (the samàdhi for the torch of wisdom): thiền định làm sinh khởi trí tuệ lớn.
+ Trang nghiêm vương tam muội ( The samàdhi for the adornment king): định an trú khỏi chấp trước.
+ Tịnh Quang Minh tam muội (the samàdhi for pure light): thiền định để có ánh sáng thuần tịnh (trí tuệ).
+ Tịnh Tạng tam muộn ( The samàdhi for the pure store): an trú vào nguồn tâm thanh tịnh.
+Bất động tam muội ( the samàdhi for special teaching): khả năng định hiểu sâu các biệt giáo.
+ Nhật triền tam muội ( the samàdhi for the race of the sun): Thiền định trú vào các vật đại oai lực như mặt trời.
Các loại thiền định trên là cách trình bày của riêng Pháp hoa , khác với thể thức trình bày chín cấp định của Nikàya và A hàm. Các loại đại định trên của Bồ tát Diệu Âm hẳn phải tương đương với Diệt thọ tưởng định.
Tại đây ta cần phân định rõ rằng:
Đại thừa thường thường (có thể là luôn luôn) quan niệm phải vào sâu định hành giả mới có thể đi vào đại tuệ. Nikàya và A hàm thì xem từ Tứ thiền sắc định là đã có thể đi vào biển Thánh nếu có chính kiến vô ngã.
Một vị đắc A-la-hán có thể không khinh qua các cảnh giới định mà chỉ nhờ có trí tuệ lớn đốt cháy các lậu hoặc. Sau đó, nếu muốn, các vị A-la-hán dễ dàng đi vào các định.
Các bậc Thánh tu tập “ Tứ như ý túc” thì thường đắc nhiều loại thần thông có thể được xem là tương tự các loại định mà kinh Pháp hoa đề cập.
Tuy đề cập như thế, nhưng chúng ta cũng cần cẩn trọng ghi nhớ lời dạy của Đức Thế Tôn rằng có bốn đối tượng mà tư duy không thể đặt chân đến được, đó là: Quả dị thục của nghiệp; cảnh giới định của các thiền giả; Pháp giới tâm; và Phật tâm.
2. Tư tưởng
a. Diệu âm là tiếng nói vô ngã của các pháp. Muốn nghe được tiếng nói đó, hành giả cần có công phu học hỏi, tu tập nhiều công đức. Thí như chúng ta phải trải qua một thời gian tu học mới có thể liễu hội nghĩa lý của vô ngã. Tất cả mọi hiện hữu đều nói lên tiếng nói đó, nhưng muốn nghe được, hành giả cần có chánh kiến như lời Thế Tôn dạy: “ Nhờ hào quang của Thế Tôn soi chiếu, chúng sinh cõi Ta bà mới thấy tôn dung của Bồ tát Diệu Âm”.
b. Trước khi đến Ta bà, Bồ tát Diệu Âm đã được Đức Thế Tôn Tịnh Hoa Tú Vương Trí dặn dò rằng: “ Đừng khinh thế giới Ta bà! Đừng xem Ta bà là kém thua thế giới Tịnh Quang Trang Nghiêm!... Đừng xem Đức Phật ở Ta bà và các Bồ tát ở đó là kém thua Như Lai và các Bồ tát ở đây!”.
Anh văn:
“ Do not despise that world! Do not consider it to be inferior “to our world”! Good man! The Sahà World… The Buddha… Do not consider that the Buddha and Bodhisattva of that world are inferior “to us”!”.
(Ibid.p.281)
Lời dặn dò của Đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí Phật xác nhận rõ hết thảy các pháp là vô ngã nên các thế giới, các Bồ tát và chư Phật đều đồng đẳng ở mặt thật tướng. Ta bà vốn thanh tịnh như cõi
Nước của chư Phật. Tại đây, kinh Pháp hoa diễn nói về bản giác và thỉ giác vốn là một, không khác.
c. Sau lời dạy Thế Tôn Tịnh Hoa Tú Vương Trí, Bồ tát Diệu Âm đáp:
“ Bạch Thế Tôn! Con đến thế giới Ta bà là do thần lực của Thế Tôn, do thần thông du hí của Thế Tôn , do các công đức và trí tuệ của Thế Tôn đã trang nghiêm cho con”.
Anh văn:
“ World-Honoured One! I can go to the Sahà-World by your powers, by your supernatural powers, by your suppernatural powers of travelling, and by your merits and wisdom which adorn me”.
(Ibid.p.281)
Lời bạch của Bồ tát bộc bạch rõ chính là nhờ trí tuệ vô ngã (Thế Tôn) mà Bồ tát xuất hiện ở Ta bà trong nháy mắt; cũng nhờ trí tuệ ấy mà thấy thực tướng tất cả các hiện hữu ở Ta bà, nên sẽ không thể có sự so đo tính toán của các ngã tưởng. Thế Tôn hãy an tâm!
Lời bạch vừa hé mở rằng: Ở Ta bà, nếu ai nghe được tiếng nói vô ngã thì thấy được thực tướng, và những ai tu tập trí tuệ sẽ nghe được tiếng nói của thực tướng.
d. Bồ tát Diệu Âm không rời khỏi chỗ ngồi mà vẫn đặt chân đến Ta bà:
Đây là hình thức Thế Tôn diễn bày thật nghĩa. Vì thật tướng là vô ngã, nên kia và đây là một, cõi Tịnh Quang kia Ta bà này là một, do vậy dù Bồ tát không rời khỏi chỗ ngồi mà vẫn hiện diện ở Ta bà. Hình ảnh biểu tượng của Bồ tát trong vị trí này còn nói lên thật tướng “ không tướng” có mặt khắp nơi, ở Tịnh Quang thế giới và ở Ta bà thế giới.
e. Thế Tôn Tịnh Hoa Tú Vương Trí cùng hàng Bồ tát đến Ta bà nghe Đức Thích Tôn giảng về Diệu pháp:
Hình ảnh này nói lên rằng trong thật pháp, thật nghĩa thì Bản giác; cảnh giới sinh diệt và cảnh giới vô minh vốn không phải là sai biệt, chân và vọng là không phải hai, bồ đề và phiền não là một.
Nghĩa không phải là hai, hay là nghĩa một này là nghĩa “ Nhất thừa” hay diệu nghĩa.
g. Nơi Bồ tát Diệu Âm đi qua thì chấn động:
Hình ảnh này biểu tượng hóa hai ý nghĩa:
Người nào rõ thực tướng là “ không tướng” thì các vọng tưởng của tâm sẽ bị gây chấn động, dao động mạnh; các vọng tưởng rơi đổ; tham, sân, si rơi đồ.
Nơi nào, các ngã tướng bị soi rọi bởi cái nhìn vô ngã thì các ngã tướng ấy chao đảo và rơi đổ.
h. Mắt của Bồ tát Diệu Âm như cánh sen xanh:
Về mặt văn học, thi ca, mắt xanh là biểu lộ chân tình. Mắt trí tuệ là mắt thấy rõ sự thật nên được biểu tượng bằng màu xanh của cánh hoa sen. Cũng nói lên rằng con mắt vô cấu, không vẫn đục bởi tham ái, sân hận và si mê nên được gọi là mắt xanh. Con mắt vốn là cửa sổ của tâm, nên mắt mà xanh thì tâm là tâm vô cấu, hay tâm là vô cấu nên mắt mới hiện ra màu xanh cánh sen.
i. Kết quả giải thoát của Bồ tát Diệu Âm là do đãi trải qua 12.000 năm cúng dường Phật Vân Lôi Âm Vương (Cloud-Thunder-Roll-King): là tràng âm thanh lớn như tràng sấm. Đây là biểu tượng tiếng sấm vang lớn nhất, là âm thanh của trí tuệ thực tướng công phá các vọng tưởng.
k. Bồ tát Diệu Âm hiện ra tất cả tướng ở khắp nơi để diễn nói Diệu pháp:
Biểu tượng rằng thực tướng có mặt khắp nơi. Tất cả các pháp đều đang nói Diệu pháp, đang thường nói Duyên khởi, Vô ngã, Vô thường. Các hình ảnh trăng tròn rồi khuyết, hoa nở rồi tàn, bèo hợp rồi tan biểu hiện rõ nhất tướng vô ngã, vô thường. Các hiện hữu khác điều hiện tướng duyên sinh nên cũng thường nói tiếng nói vô ngã.
l. Bồ tát Diệu Âm ra mắt các Bồ tát Văn Thù, Dược Vương, Đắc Cần Tinh Tấn Lực và Dõng Thí: