này nói lên rõ tâm lý của những Phật tử (tại gia và xuất gia), hành giải thoát thường lạc quan, thanh trước cuộc đời, ít nhất là vì chính sự nghiệp giải thoát của tự thân.
Thái độ giảng dạy này in hệt với thái độ giảng dạy, và cả chủ trương của Thế Tôn trong Nikàya và A hàm, từ bài pháp Tứ đế giảng lần đầu tiên tại vườn Lộc Uyển rằng:
“… Ta không tuyên bố rằng giải thoát đến từ khổ, mà giải thoát đến từ hỷ, lạc”.
( Xem Phật học khái luận, cùng soạn giả, về bài Tứ đế).
III. PHẨM THÍ DỤ (phẩm thứ ba)
(A Parable)
1. Phẩm kinh này khởi sự triển khai ý nghĩa Nhất thừa đã dạy từ hai phẩm đầu.
Khi Thế Tôn mở bày diệu pháp đến cuối phẩm Phương Tiện thì chỉ có Tôn giả Xá-lợi-phất, bậc trí tuệ nhất trong hàng A-la-hán, tin hiểu và được Thế Tôn thọ ký ở đầu phẩm Thí Dụ này.
2. Thế Tôn tiếp tục khai mở nghĩa “ Phương Tiện” để đánh thức các Tôn giả đang ngưng sự giải thoát tại vị trí “ giải thoát thân” bằng ví dụ “ Ngôi nhà lửa” hay “ ba xe” (xe dê, xe nai và xe
trâu). Tại đây bốn Tôn giả Đại Mục-kiều-liên, Đại Ca-diếp, Đại Ca-chiên-diên và Tu-bồ-đề giác ngộ và được Thế Tôn xác nhận sự kiện giác ngộ này ở đầu phẩm Tín Giải ( phẩm thứ tư).
3. Tư tưởng
a. Sau khi liễu hội nghĩa Nhất thừa, Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn: “ Hom nay con mới nhận rõ rằng con là con của Phật, đã được sinh ra từ miệng của Phật, trong thế giới của Diệu pháp, và đã được Diệu pháp của Phật”.
Anh văn: “ Today, I have realized that I am your son, that I was born from your mouth, that I was born in (the world of) Law, and that I have obtained the Law of the Buddhas”!
(Ibid. p.46)
Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói lên ý nghĩa giác ngộ Diệu pháp là bừng tỏ ra rằng mình đã và đang trú trong pháp tính, trong giác tính. Thấy rõ điều đó là thấy Phật tri kiến. Tất cả chúng sinh đều như thế, duy chỉ có một điểm khác biệt là Tôn giả Xá-lợi-phất đã tự mình, do viên mãn định, tuệ, thấy điều đó, còn chúng sinh thì chưa, do vì tâm còn chứa đầy cả nghi ngờ (vì thiếu định, tuệ).
Dù chưa nhận rõ được diệu pháp, chúng sinh cũng đang trú trong diệu pháp. Lời bộc bạch trên của Tôn giả Xá-lợi-phất còn cho thấy vô minh và
khổ đau của chúng sinh hiện diện rất là mộng mị (hư hữu), có mặt trong các ngã tưởng, mà không có mặt trong thực tại. Khi đã nhận rõ, thật rõ, không tướng của hết thảy pháp thì vô minh và vạn nỗi khổ đau tan biến như chính nỗi sợ hãi về con rắn tưởng tượng do nhận lầm từ sợi dây. Lời bộc bạch của Tôn giả Xá-lợi-phất đủ để hiển lộ diệu pháp và con đường vào diệu pháp.
Tại đây, các câu hỏi về nguồn gốc của các pháp hữu vi, của các ngã tướng đều không có chân đứng. Rằng, cái gì không thật (như các ngã tướng) thì không có gốc.
b. Tôn giả Xa-lợi-phất bạch tiếp: “ Khi con thành Phật trong tương lai, sẽ được trang nghiêm với 32 tướng quí, và sẽ được chư Thiên loài Người v.v… tôn kính”.
Anh văn: “ When I become a Buddha in the future, I shall be adorned with the thirty-two marks, and respected by Gods, Men, Yarkka, etc…!”
(Ibid.p.48)
Và:
“ Con nghe tiếng nói hiền dịu của Thế Tôn,
Tiếng nói sâu xa và kỳ diệu,
Thế Tôn nói Diệu pháp thanh tịnh,
Tâm con rất vui mừng.
Tất cả nghi đều mất.
Tâm con được đại tuệ (thật tuệ)”.
Anh văn:
“ I hear your gentle voice
Your voice is deep and wonderful.
You expound the pure Law
My heart is filled with great joy.
All my doubts are gone.
I have obtainded true wisdom”.
(Ibid. p. 49)
Tôn giả bấy giờ đã đắc thật tuệ (true wisdom), nghĩa là đã vào Phật tri kiến, nhưng chưa thật sự là một Phật Chánh Đẳng Giác có đủ 32 tướng đại nhân.
Theo Nikàya và Kim Cương Bát-nhã, một vị vua Chuyển luân Pháp vương cũng có 32 tướng đại nhân, nhưng lại chưa chứng thật trí. Tại đây giúp ta nhận ra một sự thật (gọi là pháp nhĩ như thị) rằng: Pháp hoa vẫn ghi nhận như Nikàya và A-hàm rằng trong hiện kiếp tại thế chỉ có một bậc Chánh Đẳng Giác ra đời. Các đệ tử có thể đắc thật trí, nhưng chưa là Phật. Đối với vị đã đắc thật tuệ thì hiện tại và tương lai là một, đang là Phật rồi.
thời điểm trở thành vị Phật lịch sử chỉ có giá trị và ảnh hưởng đối với chúng sinh, đối với sự liên hệ với chúng sinh.
c. Ảnh dụ căn nhà lửa tam giới:
- Căn nhà lửa chỉ có ba cõi (dục giới, sắc giới và vô sắc giới), chỉ cho thân ngũ uẩn này, vừa chỉ cảnh giới sinh tử. Căn nhà ấy đang bốc cháy vì lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa sầu, bi, khổ, ưu, não, sợ hãi. Thân ngũ uẩn của chúng ta cũng đang bốc cháy ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý bởi cùng các thứ lửa ấy”.
( Tương Ưng IV, phẩm Bốc Chảy)
- Căn nhà lửa chỉ có một cửa để thoát ra (vào ra): Nói chỉ có một cửa để thoát ra cũng cùng nghĩa với câu nói chỉ có một cửa để vào. Cửa đó là gì?- Nếu do vì ngã tưởng (vô minh) mà chúng sinh dấy khởi tham, sân, si, sầu, bi… thì cũng do cánh cửa ấy, chúng sinh dập tắt ngã tưởng là đi ra khỏi tam giới của lửa tham, sân, si… đang bốc cháy vậy.
Cũng có thể phát biểu cách khác rằng: Nếu Tập đế là sự thực đưa chúng sinh vào nhà lửa Tam giới, thì Đạo đế là cách cửa mở lối ra khỏi căn nhà lửa ấy. Đây chỉ rõ giáo lý Tứ đế là sự thật, và là duy nhất của giáo lý Phật giáo. Các giáo lý khác chỉ là triển khai chi tiết và mở rộng giáo lý này ( hay nói khác đi, là chi tiết của Tứ đế hay là Tứ đế mở rộng).
- Xe dê là ảnh dụ chỉ hàng đệ tử Phật chỉ cầu tự thân thoát ly tham, sân, si, khổ đau của sinh tử, nhờ sự chỉ đạo của Đạo sư.
- Xe nai là ảnh dụ chỉ hàng đệ tử tự giải thoát khỏi Tam giới do nỗ lực của tự nhân, có trí tuệ giải thoát mạnh hơn hàng Thanh văn.
- Xe trâu là ảnh dụ chỉ hàng Bồ tát, hàng đệ tử có khả năng tự đi ra khỏi Tam giới, ngoài ra cón có khả năng và hạnh nguyện giúp các chúng sinh khác đi ra khỏi Tam giới không mệt mỏi. Hàng đệ tử này đang trên đường vào Phật trí.
d. Giáo lý chung cho ba thừa nói trên:
Giáo lý ấy là gì?
Phẩm “Thí Dụ” ghi: “ Giáo lý chung cho ba thừa được các bậc Thánh khen ngợi. Pháp ấy cứu chúng sinh thoát khỏi chấp thủ, trói buộc, thoát khỏi ham muốn. Pháp hành của thừa ấy để loại trừ các lậu hoặc tu tập năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám thánh đạo, và tu tập thiền, giait thoát, định, được vô lượng tịnh lạc”.
Anh văn: “ This teaching of the three Vehicles is estolled by the Saints. This teaching saves you from any attachment or bond or desire. Ride in these three Vihicles, eliminate asravas, obtain the Five faculties, the Five powers, the seven ways to enlightenment, and the Eight right ways, and
practise dhyana- concentrations, emancipations, and samadhis so that you may be able to enioy immeasurable peace and pleasure!”
(Ibid.p.58)
Theo Pháp hoa, nội dung của giáo lý chung cho Thanh văn, Bích chi và Bồ tát là Tứ đế để loại trừ tham ái và chấp thủ. Pháp hành chung cho ba thừa là Đạo đế, như đã được kiết tập ở Nikaya và A-hàm. Pháp hoa cũng như kinh Di Đà (cảnh giới Di Đà) chỉ đề cập đến năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám thánh đạo, mà không đề cập đến Bốn niệm xứ và Bốn chính cần. Điều này giúp cho chúng ta thấy rõ rằng:
- Điều kiện của một hành giả được sinh về cực lạc ít nhất là ở tại cuộc đời này, đã chuyên cần thực hành Bốn niệm xứ thiền chỉ và thiền quán) để có một căn bản Giới, Định, Tuệ để loại trừ được năm hạ phần kiết sử (thân kiến, nghi, giới, cấm thủ, dục và sân). Có nghĩa là đã tu tập Bốn niệm xứ và Bốn chánh cần.
- Cũng thế, khả năng để vào từ Sơ quả Thánh (chưa nói đến Bích chi và Bồ tát) là tâm lý trú ở Tứ sắc định và hành thiền quán vô ngã. Nghĩa là đã trải qua một công phu đáng kể hành Tứ niệm xứ và Tứ chánh cần.
Tại đây có thể xạc định rằng đối tượng được coi là đương cơ nghe kinh Pháp hoa có thể đi sâu vào trí tuệ giải thoát có cấp độ tu tập ngang Tứ thiền và có Chánh kiến vô ngã. Với căn cơ ít nhất như thế này mới đón nhận được nhiều tác dụng, nhiều rung động giải thoát khi đọc, tụng, nghiên cứu, giảng nói và thực hành giáo lý Pháp hoa.
e. Pháp hoa định nghĩa về Thanh văn, Duyên giác và Bố tát, Đại Bồ tát:
“ Những ai có trí sau khi nge Pháp từ Thế Tôn, rồi tin nhận, những vị ấy nỗ lực cầu Niết bàn để thoát ly Tam giới thì gọi là Thanh văn… Những ai sau khi nghe Pháp từ Thế Tôn rồi tin nhận, nỗ lực cầu trí tuệ tự nhiên, ưu thích Thiền định, đọc cư, hoàn toàn hiểu rõ nguyên nhân của tất cả pháp, thì gọi là Bích chi… Những ai sau khi nghe Pháp từ Thế Tôn rồi tin nhận, nỗ lực cầu Nhất thiết trí, cầu Phật trí, Tự nhiên trí, Vô sư trí, cầu các Tuệ, Lực và các Vô úy của Như Lai, với dòng từ bi đem lại an lạc cho vô lượng chúng sinh, làm lợi ích cho chư Thiên và loài Người, cứu độ tất cả chúng sinh, thì gọi là vị thuộc căn cơ Đại thừa. Chư Bồ tát do vì cầu đắc thừa này nên gọi là Đại Bồ tát…”.
Anh văn:
“ Sariputta! Those who have intelligence, who receive the Law by faith after hearing it from the
Buddha, from thr World-Honoured One, and who seek Nirvàna with strenuous efforts in order to get out of the triple world, are called Sràvaka…Those who receive the Law by faith after hearing it from the Buddha, from the World-Honoured One, who seek self-originating wisdom with strenuous efforts, who wish to have good tranquility in selusion, and who perfectly understand the cause of all things, are called Pratyekabuddhas… Those receive the Law by faith after hearing it from the Buddha, from the World- Honoured One, who seek the knowledge of all things, the wisdom of Buddha, the self-originating wisdom, the wisdom to be obtained without teacher, and the insight and powers and fearlessness of the Thatàgata with strenuous efforts, who give peace to innumerable living beings out of their compassion towards them, and who benefit Gods and Men, that is to say, who save all living beings, are called Men of the Great Vehicle, Men of the Great Vehicle. Bodhisattvas are called Mahàsattvas because they seek this Vehicle”.
(Ibid.p.58)
Đoạn kinh trên đã định nghĩa về Thanh văn,Bích chi và Bồ tát. Chúng ta hãy xem đây là định nghĩa rất mực của Pháp hoa, vừa rất phù hợp với kinh tạng Nikàya và A hàm. Chủ trương xây
dựng mẫu Bồ tát của Pháp hoa là thể hiện đúng con đường chính Bậc Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni đã đi qua.
Cuốn sớ giải Jàtaka ( Bổn Sanh) thuộc Nikàya do đại tịnh xá Anuradhapura (xứ Tích Lan) đưa ra, và kinh Đại Bổn, Vị Tằng Hữu thuyết ( Trường Bộ, Nikàya) đề cập đến tiền thân của đức Thích Ca Mâu Ni khi Ngài là một Bồ tát tên là Thiện Tuệ (Sumedha) rằng, chính dưới chân Phật Nhiên Đăng (Dìpankara) Bồ tát chứng thật tuệ, nhưng Bồ tát từ bỏ Niết bàn trở lại sinh tử cứu độ chúng sinh để viên mãn Phật trí như đức Nhiên Đăng.
Thế là Pháp hoa đã chủ trương lý tưởng Bồ tát rất phù hợp với truyền thống, rất cao thượng, và rất trung thành với đạo lộ giải thoát mà Thế Tôn đã đi qua.
Qua định nghĩa ba quả giác trên, ý nghĩa đã mở rộng ra rõ ràng là chỉ do lòng mong ước của hành giả về quả giải thoát khác nhau mà pháp hành có khác nhau, và cấp độ hành mỗi pháp khác nhau. Thật ra giáo lý Tứ đế và Duyên khởi, hiểu thật đúng chân nghĩa chỉ là một. Và cả Lục độ Ba-la-mật cũng là Tứ đế ( Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Tri kiến giải thoát) nhưng hành sâu và rộng lớn với tâm nguyện đại từ bi cứu độ chúng sinh (cũng
Bao hàm trong Tứ vô lượng tâm được kiết tập ở Nikàya và A hàm). Chỉ một giáo lý Tứ đế là có thể đưa hành giả đến Thanh văn, Bích chi, Bồ tát hay Phật (như chính đức Phật đã thành).
Do vậy, vài dòng kinh ở Phẩm Tựa (mà có ý kiến, và cả ý kiến của người biên soạn tâp tư tưởng này, cho rằng do các Pháp sư người Hoa thêm vào sau) phân biệt Tứ đế và giáo lý Thanh văn, Thập nhị nhân duyên và giáo lý của Bích chi và Lục độ ba-la-mật là giáo lý Bồ tát là lối phân biệt có vẻ vội vàng. Tinh thần phân biệt đó đã đi lệnh hướng của “ Hội tam quy nhất” để thống nhất giáo lý và thống nhất tổ chức Giáo hội Phật giáo của kinh Pháp hoa vốn rất cao thượng và rất truyền thống.
Pháp hoa xiển dương hết thảy các pháp là vô ngã, vô tự tính. Nếu Tứ đế chỉ là pháp dành riêng cho Thanh văn thì Tứ đế có ngã tính là Thanh văn (huống nữa Thanh văn cũng vô ngã tính!). Tương tự, đối với Duyên khởi và Lục độ. Như thế, mấy dòng kinh ấy đã có nét khác màu tư tưởng Pháp hoa rồi, giữa khi tất cả dòng kinh còn lại của Pháp hoa đều nhất quán xiển dương Nhất thừa. Nhất thừa hay Phật thừa ở đây, phải được xác định bằng một lần nữa rằng là “Nhất thừa” của tất cả các pháp (vì tất cả chỉ có một thật tướng vô tướng),
Và ba thừa khác biệt là do căn cơ của người hiểu và hành, chứ không phải tính chất “thừa” của pháp, của giáo lý.
( Chẳng hạn, ngay pháp bố thí tài vật cũng chuyển thành bố thí Ba-la-mật của Bồ tát, nếu hành giả hành bố thí với tâm rời chấp thủ tất cả ngã tướng).
g. Những căn cơ nghe được Diệu pháp:
Kinh Pháp hoa phân biệt những tâm hồn nào đáng được nghe Diệu pháp, và những tâm hồn nào không phải là đối tượng nghe Diệu pháp:
Căn cơ không đáng được nghe Pháp hoa:
*Tâm lý kiêu mạn, tà kiến
* Hưởng thụ các dục lạc
* Si tánh, ít học
* Chấp tự ngã.
* Không tin Pháp hoa
Căn cơ đáng được nghe Pháp hoa:
* Trí sáng, minh mẫn
* Học rộng, nhớ nhiều.
* Mong cầu Pháp hoa, mong cầu giải thoát
* Đã gặp Phật, đã gieo công đức (có chánh kiến).
* Tu tập lòng từ vì hạnh phúc của tha nhân.
* Thích tịch tĩnh vắng lặng.
* Giữ giới nghiêm túc
* Cầu giác ngộ, cầu Đại thừa.
* Tôn kính Tam bảo.
* Thường giới thiệu Phật giáo đến người khác
* Các Tỷ kheo cầu Đại thừa.
* Tin Phật, tin Pháp và tôn kính Xá lợi.
Nói một cách giản dị, các tu sĩ và cư sĩ Phật giáo có chánh kiến và chánh tín (hành Bát Thánh Đạo) là căn cơ đáng được nghe kinh Pháp hoa. Kinh Pháp hoa sẽ giúp các căn cơ ấy nuôi dưỡng và phát triển lòng đại bi và trí tuệ giải thoát.
Thế thì, năm Tôn giả Kiều trần như sau thời pháp Tứ đế là đối tượng nghe Pháp hoa. Không thể ngộ nhận cho rằng các Tôn giả ấy thiếu khả năng tiếp thu Diệu pháp, nhất là bốn ngày sau đó cả năm Tôn giả đều đắc quả A-la-hán.
Thời pháp thứ hai được Thế Tôn giảng cho năm Tôn giả cũng tại Lộc Uyển, bốn ngày liên tiếp sau thời Tứ đế, là Ngũ uẩn và Vô ngã (xem Phật Học Khái Luận, cùng soạn giả). Nhờ nghe thực tướng, không tướng mà năm Tôn giả chứng đắc vô lậu tâm giải thoát, vô lậu tuệ giải thoát. Chặng đường còn lại năm Tôn giả hành hóa cho đến giờ phút cuối cùng ở đời như một