Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 14: VIII. Phẩm 500 đệ tử được thọ ký (phẩm thứ tám) (Trang 81 - 87)

VIII. PHẨM 500 ĐỆ TỬ ĐƯỢC THỌ KÝ ( phẩm thứ tám)
( The Assurance of future Buddhshood of the five hundred Disciples)

1. Tại đây, Thế Tôn chính thức ghi nhận sự kiện sẽ thành Phật trong tương lai của 500 vị A-la-hán.
Sự kiện thọ ký này, thoạt đầu, Thế Tôn chỉ xác nhận sự giác ngộ Phật trí ngay hiện tiền trong hội chúng của Ngài qua một số Tôn giả đại trí tuệ. Dần dần, Thế Tôn thọ ký rộng rãi ra đến chúng sinh. Điều mà Thế Tôn đã thực sự đề cập đến một cách tế nhị từ phẩm thứ hai: Tất cả sẽ thành Phật, bởi vì tất cả vốn có Phật tánh. Đây là nội dung lớn mà Pháp hoa xiển dương và thiết lập lòng tin cho chúng sinh (chúng ta hãy đọc lại kỹ từng dòng kinh, bên ngoài câu chuyện như là thuật lại những mẫu chuyện quá khứ, nhưng thực sự, Thế Tôn đã giới thiệu cho thấy mọi chúng sinh sẽ thành Phật, như trường hợp một em bé vẽ hình Phật trên cát đã thành Phật v.v…)
2. Tư tưởng
a. Lời Tôn giả Phú-lâu-na tán thán Thế Tôn:
“ Thế Tôn thật khác thường. Những gì Ngài dạy thật hiếm có. Với tuệ giác, Ngài tuyên thuyết Diệu pháp tùy theo căn tính khác nhau của chúng sinh, và cứu chúng sinh rời khỏi tham trước. Các
công đức của Thế Tôn vượt ngoài các ngôn ngữ diễn đạt. Chỉ có Thế Tôn biết được ước mong trong thâm tâm chúng con”.
Anh văn:
“ The World-Honoured-One is extraordinary. What he does is rare. He expounds the Law with expedients by His insight according the various natures of all living beings of the world, and save them from various attachments. The meritsof the Buddha are beyond the expression of our words. Only the Buddha, onlythe World-Honoured-One, knows the wishes we have deep in our minds”.
                                (Ibid.p.140)

Dâng lời tán thán Thế Tôn là Tôn giả đã gián tiếp trình bày sở ngộ Phật trí của tôn giả. Tôn giả đã thực sự ngộ những gì?
- Liễu ngộ rằng Thế Tôn nói pháp tùy căn cơ người nghe: Đây là sự sở ngộ về lý do có “ Tam thừa”, có nghĩa là Tôn giả đã liễu hội “ Nhất thừa”.
- Thế Tôn tuy nói pháp tùy duyên, nhưng mục đích giải thoát thì luôn luôn có mặt trong mọi lời dạy, mọi thời pháp. Mục đích giải thoát vừa có nghĩa là bản chất của giáo lý Thế Tôn dạy, là ly tham ái, chấp thủ. Tùy theo cấp độ thành tựu của công phu rời xa tham trước ấy mà có tên các thừa như Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát. Nếu ly
chấp thủ triệt để thì sẽ giác ngộ Phật trí, và nếu hành Bồ tát đạo thì sẽ nhập Phật trí.
 - Lời bạch “ Chỉ có Thế Tôn biết được các ước mong trong thâm tâm của chúng con” vừa nói lên sự liễu hội Phật trí của Tôn giả, vừa mong được Thế Tôn thọ ký (bởi vì sự thành tựu trí tuệ của Tôn giả đã đến Toàn giác), vừa hé mở cho thính chúng biết rằng: yếu tố quyết định tính chất Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát là nằm ngay trong tâm, trong trí tuệ giải thoát, mà không phải ở ngoài các tướng trạng ngôn ngữ, giáo lý, thời gian, không gian, hình tướng ( Thanh văn, Bồ tát…) mà trí tuệ giải thoát hoàn toàn thì chỉ có một và là Vô ngã (không có ngã Thanh văn, ngã Duyên giác hay ngã Bồ tát).
Sự hé mở đó được Thế Tôn hiển lộ rằng:
“ Các Thầy có biết Tôn giả Phú-lâu-na đây chăng? Ta luôn luôn khen ngợi Tôn giả là người nói Pháp tuyệt giỏi trong hàng những người nói Diệu Pháp. Ta cũng thường tán thán công đức của Ta, giúp Ta tuyên bày Chánh pháp. Tôn giả chỉ rõ con đường cho bốn chúng đệ tử, giảng dạy, làm lợi ích cho họ, và khiến họ vui mừng. Tôn giả giải thích Chánh pháp một cách toàn mỹ, và đem lại lợi ích lớn cho những người cùng Phạm hạnh.
Không có ai khác ngoài Như Lai có thể ca ngợi tài biện luận của Tôn giả. Không phải chỉ  hộ trì giáo pháp của Ta, giúp Ta duyên bày giáo pháp!Trong quá khứ, Tôn giả đã từng hộ trì Chánh pháp và đã giúp chín nghìn triệu Đức Phật tuyên bày Chánh pháp. Dưới thời chư Phật ấy, Tôn giả đã là người nói pháp tuyệt hảo nhất trong hành những người nói Pháp. Tôn giả hiểu một cách rõ ràng sự thật của không tính đã được chư Phật dạy, và đã được Bốn vô ngại biện tài. Tôn giả luôn luôn giảng nói Diệu pháp một cách rõ ràng, trong sáng và quyết chắc. Dù Tôn giả đã đắc đại thần thông của chư Bồ tát, Tôn giả vẫn hành Phạm hạnh trong suốt thời gian quá khứ…”
Anh văn:
“ Do you see this Pùrna, the son of Maitrayani? I always praise him, saying that he is the most excellent expounder of the Law. I also praise him for his various merits. He protects my teachings strenuously, and helps Me propagate them, benefits them, and causes them to rejoyce. He explains my right teachings perfectly, and gives great benefits to those who are performing Brahma practices with him. No one except the Tathàgata excels him in eloquence. Do not say that he protects only my teachings and help Me propagate them! In his
previous existence he also protected the right teachings of nine thousand million Buddhas and helped them propagate their teachings. Under those Buddhas also he was the most excellent expunder of the Law. He clearly understand the truth of the void expounded by those Buddhas, and obtained the four kinds of  unhindered eloquence. He always expounded the Law clearly and purely, with no doubt-funess. Although he had the supernatural powers of Bodhisattvas, he performed Brahma practies throughout his previous existence…”
                               (Ibid.p.140 -141)

Các điểm giáo lý đề cập trong phẩm kinh này,đặc biệt từ hai đoạn trích dẫn trên, hầu như có nội dung giống hệt với giáo lý kiết tập ở Nikàya. Chẳng hạn như các điểm:
- Chánh pháp dạy lìa tham trước.
- Giáo lý vô ngã (hữu vi và vô vi đều vô ngã)
- Những lời Thế Tôn khen vai trò diễn giảng của Tôn giả Phú lâu na hệt với khen Tôn giả kiết tập ở Nikàya.
- Không tánh ở đây không khác một li nào với ý nghĩa không tánh của Nikàya (khắp Tương Ưng II,IV; Tiểu Bộ I; kinh Tiểu Không và Đại Không, Trung III).
Lời tán thán trên của Thế Tôn vừa xác nhận sự chứng ngộ Phật trí của Tôn giả, vừa chỉ rõ ý nghĩa có tính cách tạm thời của các thừa (Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát), vừa gián tiếp khích lệ thính chúng phá tan mặc cảm trí tuệ yếu kém của mình, thời gian tu tập ngằn ngủi của mình, hình thức Thăng văn của mình. Nhờ đó mà tín tâm sanh, hỷ tâm sanh để thêm duyên lành mở bung trí tuệ giải thoát của tự thân.
b. Năm trăm vị Phật tương lai có cùng danh hiệu Phổ Minh:
- Phổ Minh ( Universal Brightness) là sự sáng phổ quát. Năm trăm vị Phật có cùng một danh hiệu nói lên rằng danh hiệu của Như Lai không nhất thiết dựa vào hạnh tu trước khi chứng ngộ, và quả Phật là quả vị tròn tất cả đức và tuệ, do đó mà chư Phật đều đồng đẳng và đồng đẳng với thật tính của tất cả pháp.
- Năm trăm vị A-la-hán được thọ ký vào giờ phút này lại dâng lời buộc bạch lên Thế Tôn. Chúng ta có thể tự tình khúc số hai của các bậc giác ngộ “ Nhất thừa” của Pháp hoa.
Khúc tự tình này cũng để lại đằng sau ngôn ngữ, và đằng sau sự giác ngộ, một cái gì quá ngậm ngùi, ngậm ngùi nhất trần gian!
Đến hai lần ngậm ngùi thay cho những ai chưa giác ngộ:
* Phật tánh có sẵn trong mình mà chúng ta vẫn chạy đôn chạy đáo tìm cầu giác tánh, tìm cầu Chánh pháp để kéo dài những ngày tháng khổ lụy!
* Sự khám phá lớn nhất, quan trọng nhất và là đối tượng mong chờ của hành giả trong vô lượng kiếp kiếm tìm lại nằm ngay ở chính ta, nơi gần gũi nhất của cuộc sống. Quả hạnh phúc chân thật không phải là một sự tìm kiếm! Đó là viên ngọc ở trong gấu áo! Đó là thực tại tính vô ngã nằm ở khắp nơi! Đó là một sự hoàn toàn không mong ước, không chờ đợi và không chiếm đắc!
Những ảnh dụ trong kinh Pháp hoa, hoặc do Thế Tôn dạy, hoặc do các Tôn giả bộc bạch, thật là kỳ tuyệt! Ảnh dụ đến với chúng ta như những tiếng gầm của sư tử, một trăm lần mạnh hơn tiếng hét của các Thiền sư, đã làm khích động tâm thức chúng ta khiến tâm thức bừng tỉnh.
c. Lời trần bạch của năm trăm Tôn giả giác ngộ “ Nhất thừa” vừa lập ra một chủ trương xiển dương của Pháp hoa là: Mọi chúng sinh đều có Phật tánh, do đó mọi chúng sinh đều có thể giác ngộ ngay trong hiện tại, tại đây, trên cuộc đời
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »