tâm, nhân tố ngăn che Phật trí đổ. Tại đây có thể có thêm một số vị Thanh văn giác ngộ Phật trí.
Những ảnh dụ của Thế Tôn có tác dụng đáng tan các ngăn che trí giác, ảnh hưởng còn mạnh hơn những tiếng hét, những con roi quất của các vị Thiền sư Trung Hoa dùng khi khai ngộ các đệ tử.
VI. PHẨM XÁC NHẬN THÀNH PHẬT (phẩm thứ sáu)
( Assurance of Future Buddhahood)
1. Thế Tôn dạy thêm ảnh dụ về cây cỏ trước khi xác nhận sự kiện sẽ thành Phật của bốn Tôn giả trí tuệ đề cập ở phần Tín Giải (phẩm 4).
2. Tư tưởng:
a. Ý nghĩa của sự kiện ghi nhận thành Phật:
Các vị Thanh văn được ghi nhận thành Phật vào thời điểm mà trí tuệ các Tôn giả thấy rõ nghĩa “Nhất thừa”, không còn chút mây ngờ vực nào vờn che bầu trời tâm thức. Nhưng bấy giờ quý Tôn giả chưa nghiễm nhiên là Đức Phật với đủ 10 danh hiệu Như Lai, bởi vì còn trải qua một thời kỳ độ sinh cho đến khi tròn đầy tất cả các hạnh, đủ nhân duyên để vận chuyển bánh xe Pháp.
b. Ý nghĩa danh hiệu Phật được thọ ký:
Qua các danh hiệu được thọ ký, chúng ta phát hiện ra mối liên hệ giữa danh hiệu và hạnh nguyện của từng vị:
- Tôn giả Đại Ca-diếp trong tương lai sẽ nói pháp sâu rộng, nên thành Phật có hiệu là Quang Minh (Light). Quang Minh là biểu tượng cho ánh sáng chân lý soi sáng sinh tử.
- Hạnh Bồ tát trong tương lai của Tôn giả Tu-bồ-đề là Phạm hạnh nên thành Phật có hiệu là Danh Tướng ( Beautiful From), biểu hiện một thân tướng trang nghiêm, đẹp đẽ, là kết quả của Hạnh Tỷ kheo.
- Hạnh Bồ tát trong tương lai của Tôn giả Ca-chiên-diên là dâng cúng chư Phật, dựng tháp Phật và cúng dường tháp Phật với các thứ hương hoa quí, nên thành Phật có hiệu là Diêm-phù-na-đề Kim Quang ( Jàmabùnada- Gold-Light)- Jàmbu: xứ Ấn, xứ có nhiều mận đỏ; onada: bao bọc, biểu tượng cho ánh sáng vàng rực khắp xứ Ấn.
- Hạnh Bồ tát trong tương lai của Tôn giả Mục-kiều-liên tương tự với hạnh của Tôn giả Ca-chiên-diên, có Phật hiệu là Đa ma la Bạt Chiên Đàn Hương (Tamàlapatracandana-Fragrance), biểu tượng cho hương trầm thơm của cây Tamàla.
Theo đó, hạnh nguyện và danh hiệu của chư vị có mối liên hệ nhân quả (cùng loại), cho dù các hạnh trên không còn bị trói buộc bởi nghiệp.
c. Cõi nước của chư vị Phật trong tương lai:
Cõi nước của chư vị Phật trong tương lai, theo lời kinh, thì thanh tịnh như cõi nước của Đức A Di Đà. Đó là cách diễn đạt biểu tượng một cảnh giới tốt đẹp, an lành, thanh tịnh theo liên hệ của chánh báo ( giải thoát hoàn toàn) và y báo (cõi nước). Từ y báo là cõi nước có thể hình dung ra chánh báo của chúng sinh trong cõi nước đó: Hẳn là chúng sinh thì hạnh phúc, bình an, thanh thản và trí tuệ.
Lối diễn đạt ấy tạo nên một khích lệ tâm lý đáng kể đối với thính chúng đương thời, những vị chưa giác ngộ Phật trí, khiến quí vị khởi tâm hân hoan, hỷ lạc. Trong điều kiện tâm lý hỷ lạc đó thì dễ bừng sáng tâm thức.
Về mặt tư tưởng, hình ảnh cõi Tịnh độ của chư Phật tương lai, không có sạch dơ, không có cao thấp v.v… là nói lên thực tại (cõi nước) vô ngã tướng. Vì vô ngã tướng nên vắng mặt tướng sạch, tướng dơ, tướng cao, tướng thấp v.v…
Từ khi được thọ ký giác ngộ Phật trí cho đến khi thực sự thể nhập hoàn toàn Phật trí để khai mở con đường giải thoát vô thượng cho chúng sinh là một khoảng thời gian dài lắm mà (thực ra