III. Ý NGHĨA TÊN KINH
Tên kinh là Saddharma – Pundarìka Sùtra. Pháp sư Pháp Hộ tịch là Chánh Pháp hoa kinh; Pháp sư Cưu-ma-la-thập dịch là Diệu pháp liên hoa kinh. Tên kinh nói gọn là Pháp hoa.
Theo truyền thống Phật giáo, hoa sen là biểu tượng của chân lý, diệu pháp, vô nhiễm. Cũng thế,thật tướng của thế gian vốn ở ngoài tướng trạng của tham ái và chấp thủ.Thật tướng thường trú, vì thế được biểu tượng bằng Diệu pháp liên hoa. Tên kinh đã gói trọn nội dung cho rằng tất cả chúng sinh có thể giải thoát trọn vẹn giữa lòng đời ác trược, đã giới thiệu giáo lý Nhất thừa vượt khỏi các chủ trương quan điểm.
IV. NỘI DUNG KINH PHÁP HOA
Có thể trình bày nội dung kinh dưới nhiều hình thức:
1. Hình thức thường được giới thiệu là “Mở bày cho chúng sinh thấy rõ Phật tri kiến và con đường thể nhập Phật tri kiến (khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật chi tri kiến).
Hải Ấn Thiền sư trình bày nội dung ấy như sau:
a. Phẩm Tựa: Hiển bày tổng quát về sự tướng của phap giới.
b. Từ phẩm 2 đến phẩm 10: Mở ra cái thấy biết của Phật.
c. Từ phẩm 11 đến phẩm 22: Chỉ cho thấy rõ chỗ thâm áo của Phật tri kiến.
d. Từ phẩm 23 đến phẩm 28: Nói về thể nhập Phật tri kiến.
2. Tông Thiên Thai trình bày nội dung Pháp hoa chia làm hai phần:
a. Phần Tích môn (Tích môn tích hóa): đây là phần hóa độ của Đức Phật Thích Ca biểu hiện qua lịch sử: tu tập, thành đạo, và giáo hóa, gồm 14 phẩm kinh đầu.
Phần này lại được phân đoạn:
+ Phẩm Tựa: Giới thiệu tổng quát về Phật tri kiến.
+ Phẩm 2: Gọi là “ pháp thuyết châu”, cũng chỉ bày tri kiến Phật, nhưng chỉ có bậc đệ tử thượng trí như Tôn giả Xá-lợi-phất mới lãnh hội được.
+ Phẩm 3-6: Gọi là “ dụ thuyết châu”, ở đây Thế Tôn dùng nhân duyên thí dụ để chỉ bày Phật tri kiến, nhờ thế, các bậc mới lãnh hội được.
+ Phẩm 7-9: Gọi là “nhân duyên thuyết châu”, tại đây Thế Tôn mở tâm cho các đệ tử căn trí thấp hơn thấy rõ nhân tu hành quá khứ của tự thân để phát khởi tâm Đại thừa, hầu thấy rõ Phật tri kiến. Phần này dạy các bậc Thanh văn hữu học ( Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm và A-na-hàm).
+Phẩm 10-14: Từ phẩm 2 đến phẩm 9 là phần chính của Tích Môn; từ phẩm 10 đến phẩm 14 là phần trình bày bổ sung vào phần chính của Tích Môn vừa nói,nói lên khả năng thành Phật của mọi chúng sinh, nói lên Phật tính và điều kiện để hiểu và thuyết giảng Pháp hoa. Thực sự phần này chỉ tiếp tục phơi bày Phật tri kiến.
b. Phần Bản môn( Bản môn tích hóa):
+ Phẩm 15-16: Là phần chính của Bản môn, nói lên Phật tính thường có, không sinh diệt. Thế Tôn vốn là thành Phật từ vô lượng kiếp ở Ta bà, không phải mới ra đời và thành đạo trong hiện kiếp. Đây là phần giáo lý đặc biệt của Pháp hoa giải thích lý do tại sao có thể thành Phật.
+ Phẩm 17-22: Tiếp tục giới thiệu tư tưởng cuản Bản môn, vừa khích lệ các đệ tử học hiểu, tu tập và phổ biến kinh.
+ Phẩm 23-28: Trình bày con đường đi vào Phật tri kiến của hàng Bồ tát.
3. Hai hình thức trình bày nội dung của kinh Pháp hoa trên đều có giá trị đáng ghi nhận. Tuy nhiên, chúng ta có thể trình bày Pháp hoa dưới hình thức giới thiệu thẳng giáo lý tu tập đưa đến chứng ngộ Phật tri kiến. Giới thiệu giáo lý ấy trong tương hệ với giáo lý truyền thống, vừa cùng lúc trình bày ý nghĩa của “ Khai, thị,ngộ, nhập Phật chi tri kiến”, mà không phân đoạn tách rời ý nghĩa của các tác phẩm kinh. Bởi vì, thấy Phật tri kiến cũng là thấy rõ con đường thể nhập Phật tri kiến. Không thấy con đường nhập Phật tri kiến thì không thể gọi là ngộ Phật tri kiến được. Ở đây, “ mục đích” có mặt trên “con đường”. Vì thế các phần khai, thị, ngộ, nhập đều có mặt khắp các phẩm kinh, kể từ phẩm Tựa. Tùy theo khả năng trí tuệ mà thính chúng có thể giác ngộ Phật tri kiến ngay tại chỗ từ phẩm kinh mà mỗi vị có thể giác ngộ. Ví như Tôn giả Xá-lợi-phất giác ngộ từ phẩm 2; Tôn giả Tu-bồ-đề, Mục-kiều-liên, Ca-diếp, Ca-chiên-diên giác ngộ từ cuối phẩm 3; qua phẩm 4 thì bốn Tôn giả trình bày lên Thế Tôn sự kiến giác ngộ đó. Rồi lần lượt đến các bậc A-la-hán khác, chư Tăng hữu học và chư tôn Ni. Trí tuệ sắc bén thì giác ngộ từ đầu thời Pháp, trí tuệ bậc trung thì giác
ngộ từ các phẩm tiếp theo, trí tuệ bậc thấp thì giác ngộ chậm hơn cho đến cuối phẩm 22. Các phẩm từ 23 đến 28 nói rõ về con đường nhập Phật tri kiến với đầy đủ Giới, Định, Tuệ dành cho những ai chưa giác ngộ Phật trí cho đến phẩm 22, và dành cho chư Thiên, loài Người đương thời trong hội chúng nghe Pháp hoa và cho tương lai. Phần này vẫn bao gồm đủ khai, thị, ngộ, nhập.
Chúng tôi nghĩ 10 phẩm kinh đầu Thế Tôn dạy khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến nặng về lý, về ngôn ngữ diễn đạt. Với những vị đệ tử đã thành tựu căn bản Giới, Định, Tuệ thì có thể giác ngộ Phật trí liền từ 10 phẩm kinh này. Mười 12 phẩm kinh tiếp theo (từ phẩm 11 đến 22), Thế Tôn dạy khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến kiên nặng về sự, để cho sự nói; phần ngôn ngữ con người chỉ hỗ trợ soi sáng (khai mở) thêm. Sáu phẩm kinh cuối (từ phẩm 23 đến 28) mở rộng khai, thị, ngộ, nhập đến tận những tâm thức ở ngoài đạo giải thoát (tà kiến) với sự chỉ dẫn rõ ràng những bước đi Giới, Định, Tuệ.
4. Sau đây là một số nét giáo lý của Pháp hoa mà chúng ta cần nắm vững trước khi đi vào tìm hiểu nội dung từng phẩm kinh.
a. Hệt như Nikàya và A hàm, giáo lý nền tảng nhất của Pháp hoa là Duyên khởi và Tứ đế.
Tương Ưng Bộ kinh II và kinh Phật Thuyết Như Vậy (Tiểu Bộ kinh) ghi đức Phật chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác từ Duyên khởi. Phẩm Phương Tiện ( Phẩm 2) của Pháp hoa cũng xác nhận quả Phật từ Duyên khởi:
“ Chư Phật lưỡng túc tôn
Tri pháp thường vô tánh
Phật chủng tùng duyên khởi
Thị cố thuyết Nhất thừa”.
Anh văn:
“ The Buddhas, The Most Honorable Bipeds,
Expound the One-Vehicle because they know:
All things are devoid of substantiality
The seed of Buddhahood cones from dependent origination”.
Việt văn:
Chư Phật, các đấng viên mãn đức và trí
Hiểu biết các pháp là rỗng không tự ngã,
Quả Phật đến từ duyên khởi
Nên chỉ nói một thừa pháp.
Do đó không nên ngộ nhận cho rằng Duyên khởi là giáo lý của Bích chi, Tứ đế là giáo lý của Thanh văn quả nhỏ. Cũng có vài dòng kinh Pháp
hoa lại ghi Tứ đế là pháp Thanh văn, Duyên khởi là pháp Duyên giác. Các dòng kinh này cần được soát lại. Thực sự, về mặt giáo lý thì không có tính chất của sự thừa cao thấp; chỉ có căn cơ trí tuệ của hành giả mới biểu hiện ra trình độ ngộ nhập cao thấp của các thừa.
Hầu như danh từ Tiểu thừa, Đại thừa chỉ xuất hiện lần đầu tiên trong kinh Pháp hoa của thời kỳ Phật giáo bộ phái. Có lẽ có một sự ngộ nhận trong việc phổ biến giáo lý Duyên khởi và Tứ đế đương thời. Cũng có thể có sự chép thêm lệch lạc về sau. Trên thực tế, nhiều phẩm kinh Pháp hoa vẫn xác nhận Duyên khởi và Tứ đế là giáo lý chủ yếu nhất, chủ yếu đến độ nếu không liễu hội Duyên khởi và Tứ đế thì không thể liễu hội Pháp hoa.
b. Pháp hoa xem Niết bàn của Phật là Niết bàn tối hậu, và mới thật sự là Niết bàn, còn Niết bàn của Thanh văn, Duyên giác thì không phải thật. Điểm này cần được hiểu rất tế nhị (xem phần phụ lục).
Có lẽ có sự định nghĩa Niết bàn khác nhau giữa các bộ phái đương thời, khi mà tạng Nikàya vắng mặt ở Ấn, còn nằm nguyên ở Tích Lan. Nếu Niết bàn được định nghĩa như là ái diệt, thủ diệt, thức diệt, vô minh diệt hay lậu hoặc diệt, thì A-la-hán, Bích chi Phật, Bồ tát và Phật đều chứng đắc Niết bàn một các đồng đẳng. Chỉ có sự khác biệt giữa Phật Chánh Đẳng Giác với ba quả giác ngộ kia là,