Là vô ngã rồi) chư đệ tử cần tiếp tục hành hạnh Lục độ Ba-la-mật. Đây là chặng đường để thể nhập Phật trí.
d. Thọ ký 500 đệ tử A-la-hán:
Tiếp đến, Thế Tôn thọ ký sự kiện thành Phật trong tương lai của 500 vị đệ tử A-la-hán. Thọ ký như thế là xác định rằng hết thảy những ai đã loại bỏ hết hậu hoặc ra khỏi tâm thì nhất định sẽ thành Phật.
VII. PHẨM HÓA THÀNH DỤ (phẩm thứ bảy)
( The Parable of a magic city)
1. Đến đây, các bậc Thanh văn hữu học và Nhơn,Thiên còn chưa tin hiểu Phật trí và nghĩa “Nhất thừa” rốt ráo, Đức Thế Tôn dạy tiếp phẩm 7 và 8 mở bày nhân duyên tu hành của các vị này, và tiếp tục mở bày thực tại vô ngã. Nhắc lại công phu tu hành của một số vị hữu học để tạo nên một sức mạnh khích lệ lớn hơn hầu có thể giúp quí vị xé tan lưới nghi đang bọc chặt tâm tư mình nhờ tín khởi và hỷ khởi.
Phẩm Hóa Thành trình bày thêm một lý do, nhân tố khiến giáo pháp “ Nhất thừa” biểu hiện ra “Tam thừa”, đó là là khả năng về ý chí giới hạn của hành giả, quyết tâm giải thoát giới hạn của hành giải.
2. Tư tưởng:
a. Chữ kiếp (kalpa): có nhiều tài liệu cắt nghĩa khoảng thời gian của một kiếp khác nhau. Theo tự điển Phạn ngữ-Anh văn (của Monier – Wiliams), kiếp là thời gian bằng tuổi thọ của một vũ trụ hệ, bằng một ngày và đêm của Trời Phạm Thiên, bằng 4.320 triệu năm.
Khoảng thời gian vô lượng A tăng kỳ (assamkhya) kiếp-A tăng kỳ được xem là con số vô lượng rồi, là thời gian ở ngoài ước định của tư duy con người, ý chỉ thời gian vô ngã của thực tại (phi thời gian). Ở đó thoát ly ý niệm thời gian và không gian: Vô lượng quá khứ và thời điểm hiện tại là một; vô lượng vũ trụ hệ và tại đây là một.
b. Phật Đại Thông Trí Thắng ( Great Universal-Wisdom-Excellence) là đức Phật của biểu tượng (mà không phải là Đức Phật lịch sử), biểu tượng cho Phật tri kiến, hay tuệ giác hoàn toàn thấy suốt toàn thể pháp giới (great universe).
c. Nước Hảo Thành ( Well-Composed): biểu tượng cho sự thật duyên sinh, nhưng là duyên sinh tự thể (tự nó); nó là vô vi.
d. Thế Tôn thấy kiếp lâu xa vô lượng như là thấy ở hiện tiền: nói lên rõ ràng Thế Tôn đang diễn bày thực tại vô ngã (quá khứ và hiện tại là một). Do vì thời gian là vô ngã nên không có sự
cách biệt, vướng ngại nào về thời gian cả. Mặt khác, Thế Tôn đang thị hiện khả năng của trí tuệ vô ngã (Phật trí) để gợi lên trong tâm thính chúng niềm tin về Phật trí và “ Nhất thừa” (đây là khả năng Thiên nhãn minh) để hất ngã những nghi ngờ còn lại trong tâm.
e. Tất cả khoảng thời gian lâu xa về thọ mạng, về nhập định, về thành đạo và về “ chuyển bánh xe pháp” đều được thu nhiếp vào trong khoảng thời gian mà đức Thích Ca đang thuyết pháp, trong st1 na hiện tại, nói lên tính vô ngã của thực tại. Do vì vô ngã tính nên chúng nhiếp nhau vô ngại. Tại đây, Thế Tôn đang hiển bày lý “ Nhất thừa” và trí tuệ vô ngã.
g. Về 16 người con trai của đức Đại Thông Trí Thắng trước khi xuất gia là biểu tượng cho lộ trình giải thoát của Thế Tôn từ xuất gia cho đến khi đắc Phật trí:
1. Người con trưởng tên Trí Tích ( Accumulated Wisdom): có nghĩa là trí tuệ thành tựu nhờ công đức tu tập lâu dài. Khi thành Phật có danh hiệu là A-súc (Aksobhya), nghĩa là Bất Động.
2: Vị thứ hai thành Phật hiệu là Tu-di Đảnh ( Sumeru-Peak): điểm cao nhất của Pháp giới.
Hai vị này là biểu tượng của trí tuệ (hay tuệ uẩn). Trên lộ trình giải thoát, hành giả cần có trí
Tuệ vô ngã ( Chánh kiến) dẫn đầu. Chánh kiến là giá trị cao nhất, là dẫn đầu và linh hồn của mọi công phu giải thoát (ví như đỉnh Tu-di).
3-4: Hai vị ở phương Đông Nam là Sư Tử Âm và Sư Tử Tướng, biểu trưng cho Chánh tư duy, tiếng nói của Chánh kiến, tiếng nói của thực tướng, tiếng nói làm run rợ, rung đổ hết thảy tà kiến, như tiếng gầm của sư tử, hay bóng dáng sư tử, làm khiếp đảm muông thú.
5-6: Hai vị Phật ở phương Nam là Hư Không Trú ( Sky-Dwelling) và Thường Diệt ( Eternal Extinction) biểu tượng cho Thánh định uẩn (Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định). Chỉ có đại định tâm mới vững trú như hư không, nhiếp phục được các vọng tưởng, như hư không không dao động. Với định ấy, tâ vô ngã đốt cháy các ngã tưởng, diệt hết các ngã tưởng gọi là Thường diệt.
7-8: Hai vị Phật tử phương Tây Nam ( Đế Tướng: Emperor-From; Phạm Tướng: Brahma-From): là biểu tượng cho Thánh Giới uẩn ( Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh nghiệp). Tướng là biểu trưng cho giới.
9-10: Hai vị Phật tử phương Tây là A Di Đà (Amitàyus) và Độ Nhất Thế Thế Giới Khổ Ách ( Saving-All-Worlds-From-Sufferings). Đức Di
Đà là biểu trưng cho toàn bộ Giới ( vô lượng công đức), Định (vô lượng thọ), và Tuệ (vô lượng Quang). Giới, Định, và Tuệ uẩn cũng được tu tập nhuần nhuyễn, tròn vẹn, thì sẽ dẫn đến kết quả loại bỏ hết thảy khổ ách cho chúng sinh của vô lượng thế giới.
11-12: Hai vị Phật ở phương Tây Bắc (Đa-ma-la Bạt Chiên Đàn Hương và Tu-di Tướng: Sumeru-From): là biểu tượng cho Thánh giải thoát uẩn, tỏa ngát hương ly tham, ly thủ như hương gỗ Chiên Đàn của cây Tamàla. Bấy giờ hành giả đứng vững trong cảnh giới giải thoát như nói Tu-di vững chắc.
13-14: Hai vị Phật ở phương Bắc ( Vân Tự Tại: Cloud Liberty; Vân Tự Tại Vương: Cloud-Liberty-King): là biểu tượng cho Thánh tri kiến giải thoát uẩn (tri kiến giải thoát). Tự tại như mây trời và có đủ khả năng thuyết pháp độ vô lượng căn cơ chúng sinh như đám mây lớn phủ khắp trời cho mưa.
15-16: Đức Phật thứ 15 ở phương Đông Bắc có hiệu là Hoại Nhất Thế Thế Giới Bố Úy là biểu tượng cho Tứ vô sở úy của Như Lai, Chánh Đẳng Giác (Eliminating-Fear-Of-All_World). Cho đến cấp độ giải thoát này mới là cấp độ giải thoát của một đức Phật bổ xứ.
Đức Phật thứ 16 là Đức Thích Ca.
Mười lăm vị Phật đầu là biểu tượng cho tâm giải thoát của Đức Thích tôn thành tựu trên quá trình giải thoát đi đến Phật trí. Đó là Bát Thánh đạo được tu tập qua ba cấp độ giải thoát của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đã được kinh dạy tượng trưng rằng: Phải ngồi đạo tràng qua 24 tiểu kiếp, diệt hết chúng mà vẫn chưa chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đây là lối diễn đạt tượng trưng.
Kinh dạy tiếp: Cần ngồi tòa Sư tử thêm 8 tiểu kiếp mới thành Vô thượng Chánh Đẳng Giác Phật. Điều này có nghĩa là vị Đại Bồ tát vẫn an trú trên Giới, Định, Tuệ hay Bát Thánh đạo, ở cấp độ toàn giác mới chứng nhập hoàn toàn Pháp thân ( Dharma-kàya).
3. Về Tứ Đế - Thập nhị chuyển
Lúc nói Tứ đế lần đầu tại Lộc Uyển, Thế Tôn chuyển ba lần về Khổ, Tập, Diệt, Đạo thành 12 chuyển.
a. Thị chuyển: Lượt đầu Thế Tôn chỉ cho thấy các hành tướng của khổ, nguyên nhân của khổ, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt.
b. Khuyến chuyển: Thế Tôn khuyên dạy cần phải hiểu rõ Khổ, cần phải đoạn trừ Tập, cần phải chứng ngộ Diệt, và cần tu tập Đạo đế.
c. Chứng chuyển: Thế Tôn xác nhận tự Ngài đã chứng ngộ Tứ đế, có tri kiến như thật về Tứ đế.
Phần trình bày Tứ đế ở đây giống hệt Tứ đế được kiết tập ở Nikàya và A hàm.
Ngang đây, chúng ta đã thấy rõ giáo lý nền tảng của Pháp hoa vẫn là Tứ đế hay Tứ đế và Duyên khởi. Thực sự thì Tứ đế đã bao hàm cả Duyên khởi và tất cả các giáo lý khác của Phật giáo. Không nên lầm lẫn xem nhẹ Tứ đế. Trên thực tế, Tứ đế được nhận thức và tu tập qua nhiều cấp độ khác nhau như là Tứ đế của nhận thức và tu tập của phàm phu, của Thánh hữu học, của Thánh vô học, của Bố tát, và sau cùng là Chân nghĩa Tứ đế của Phật.
Về Lục độ Ba-la-mật, nội dung đích thật là Đạo đế của Tứ đế, là Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, và Thánh tuệ uẩn ( Giới Ba-la-mật, Định Ba-la-mật, và Tuệ Ba-la-mật) ba chi còn lại cũng được bao gồm trong đó) được các Bồ tát an trú để hành pháp độ sinh.
Theo Pháp hoa, sau khi hành giả đắc được giải thoát thân (Niết bàn ly sanh tử) thì lên đường hành pháp cứu độ chúng sinh cho đến ngày viên mãn Phật trí). Sau đó, theo nhân duyên mà ra đời chuyển vận bánh xe pháp. Mỗi đức Phật thường xuất hiện qua nhiều cảnh giới khác nhau để hóa
độ, sau mỗi lần nhập Vô dư y Niết bàn. Đức Thế Tôn sẽ là giáo chủ của một cõi nước khác với danh hiệu khác như đoạn kinh giới đây diễn đạt:
“ Này các Tỳ kheo, khi chúng ta còn là Sa di, mỗi chúng ta đã dạy nhiều trăm nghìn tỷ chúng sinh nhiều như số cát sông Hằng. Những chúng sinh ấy đã theo Ta để nghe Diệu pháp để chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Một số trong những chúng sinh ấy hiện còn là Thanh văn. Bây giờ Ta chỉ dạy họ con đường vào Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác…Vào lúc ấy ta sẽ là một vị Phật có một danh hiệu khác ở một thế giới khác. Những ai tưởng là mình đã vào Niết bàn sẽ có thể tái sinh vào thế giới mà Ta sẽ ra đời, để cầu tuệ Phật”.
Anh văn:
“ Bhikshus! When we were sramaneras, we each taught many hundreds of thousands of billions of living beings, that is as many living beings are there as sands in the River Ganges. Those living beings who followed me, heard the Law from me in order to attain Anuttara-Samyak-Sambodhi. Some of them are still in Sràvakahood. I now teach them the way to Anuttara-Samyak-Sambodhi… At that time I shall be a Buddha of another name in another
World. Those who will enter into the Nirvàna as they conceive will be able (to be reborn) in the world I shall live in, to seek the wisdom of the Buddha”.
(Ibid.p.130-131)
Nói tóm, Tứ đế là giáo lý nền tảng của Pháp hoa và của toàn thể các bộ phái Phật giáo.
Pháp hoa triển khai Tứ đế truyền thống và đưa vào Bồ tát đạo. Điều này có nghĩa là Lục độ Ba-la-mật là Tứ đế được thực hành cùng với lòng đại bi, đại từ ( độ tha). Sứ mệnh của Bồ tát là cứu độ chúng sinh, mà cứu độ tích cực là hạnh bố thí; và bố thí cao cả nhất là bố thí pháp giúp chúng sinh ra khỏi khổ đau sinh tử. Nội dung của pháp này lại là Tứ đế được hiểu và hành từ cấp độ phàm phu lên đến Bồ tát.
4. Ví dụ về Hóa thành (Magic City)
Hóa thành là ý nghĩa kinh thành do thần thông của Phật thị hiện; cũng có nghĩa là các thành tạm bợ, không thật, chỉ là bóng dáng ảnh hiện của thực tại như thực.
Thế Tôn dùng ảnh dụ hóa thành để chỉ rõ một động cơ khác, một nhân tố khác khiến “ Nhất thừa” hiện ra “ Tam thừa”, đó là do ý kiến cầu giải thoát yếu kém của chúng sinh. Thế Tôn phải nương vào ý chí giới hạn đó mà dẫn dắt dần vào
giải thoát sau cùng. Thế Tôn bèn phương tiện chỉ bày giáo lý Tứ đế (giải thoát) qua từng chặng để tránh các phản ứng không thuận lợi của tâm lý mệt mỏi của hàng đệ tử với nhiều căn cơ bất đồng. Vì thế, Thế Tôn thoạt đầu mở ra lộ trình đầu tiên đi ra khỏi tham, sân, si – đi ra khỏi sinh tử luân hồi – với bốn Thánh quả. Về sau, với các căn trí nhạy bén của đệ tử, Thế Tôn dạy chặng đường đến Phật trí.
Pháp của Bồ tát luôn đề cập đến khoảng thời gian vô lượng kiếp và thế giới vô lượng cõi, với chúng sinh vô lượng vô biên a tăng kỳ hằng hà sa. Điều này đối với tâm lý chấp nặng ngã tướng sẽ vô cùng ngao ngán, có thể quay lưng lại với đạo giải thoát. Do đó, Thế Tôn đã khéo dạy Duyên khởi và Vô ngã mà tránh đế cập đến nghĩa thâm diệu nhất của nó, chỉ triển khai vừa đủ theo từng đối tượng hầu xóa tan dần các ngã tưởng (gốc của tham, sân, si) của họ. Cho đến khi nào ngã tưởng đã vơi nhẹ hay bị tiêu diệt hoàn toàn thì Thế Tôn mới chỉ thẳng nghĩa “ Nhất thừa”, Phật trí hay thực tại như thật.
Tại đây, Pháp hoa nổi bậc hơn một số kinh khác ở hai điểm:
a. Có lý tưởng xã hội, vì thế đặt nặng việc xây dựng lý tưởng Bồ tát rõ ràng.
b. Pháp hoa xiển dương giáo lý Tứ đế, Duyên khởi và Vô ngã đến chỗ tinh yếu nhất, thâm thúy nhất.
5. Nhưng đối với chúng ta ngày nay thì việc nói thẳng hạnh Bồ tát đầy khó khăn trải qua vô lượng kiếp thì kinh Pháp hoa sẽ có tác dụng như thế nào? Có tạo ra tâm lý mệt mỏi, chán chường không?
Các câu trả lời cho câu hỏi trên và các biện pháp giáo dục tâm lý dành cho chúng sinh vào thời Chánh pháp suy đồi đã được Thế Tôn tiên liệu để lại trong các phẩm kinh cuối.
Tại đây, chúng tôi thiết nghĩ một Phật tử hành giải thoát với hạnh nguyện lợi tha, theo tinh thần Pháp hoa, chỉ cần nắm giữ và thực hiện một số điểm căn bản như sau:
- Tỉnh giác vô ngã và nuôi dưỡng tỉnh giấc ấy.
- Từ tỉnh giấc ấy, phát triển tâm rời khỏi dục vọng ( hay chấp thủ ngã).
- Giới thiệu con đường giải thoát cho tha nhân trong điều kiện có thể.
- Hiểu rằng thời gian vô ngã nên vô lượng kiếp cũng chẳng khác một kiếp. Liên tục tư duy về vô ngã thì tâm lý lo âu, mệt mỏi sẽ lặn mất.
- Tin và hiểu rằng giải thoát sâu xa có thể thực hiện ngay trong hiện kiếp.