Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 34: XXVIII. Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát (phẩm thứ hai mươi tám) (Trang 183 - 188)

Con đường giáo hóa chúng sinh, theo kinh nghiệm tâm lý giáo dục hiện đại cũng thế, luôn luôn phải vận dụng đủ hai tinh thần khế cơ và khế lý thì công việc giáo hóa mới đạt thành quả tốt.

XVIII. PHẨM PHỔ HIỀN BỒ TÁT KHUYẾN PHÁT (Phẩm thứ hai mươi tám)
(The Encouragement of the Universal Sage Bodhisattva)
1. Bồ tát Phổ Hiền (Universal-Sage) : là vị Bồ tát chung của mọi chúng sinh, luôn luôn có mặt khắp nơi để khích lệ, che chở người tu tập Pháp hoa. Đây là biểu tượng của sức mạnh ý chí thực hiện giải thoát có mặt trong tâm hành giả. Có thể gọi đây là năng lực Tinh tấn.
2. Khuyến phát (Encouragement) : là sự cổ võ, động viên, an ủi, khích lệ hành giả tu tập Pháp hoa phát khởi lòng tin Diệu pháp.
3. Mở đầu kinh Pháp hoa, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi dẫn đầu chúng Bồ tát vân tập. Bồ tát Văn Thù là biểu tượng cho Phật trí, theo đại thừa, đại tuệ giải thoát. Đây là biểu hiện của kinh Pháp hoa giới Phật trí : muốn thể nhập thực tướng thì cần phải đắc đại tuệ.
Nhưng để đắc đại tuệ thì hành giả cần phát đại bi tâm và tinh cần thực hiện Đạo đế, nghĩa là cần
hưng khởi Phổ Hiền là tiếng nói của nỗ lực đi đến sự thể nhập thực tướng.
Nói tóm lại, để đắc Phật trí, hành giả cần có tiếng gầm trí tuệ của sư tử, và có sức mạnh thực hành chuyên chở như voi.
4. Nơi nào Bồ tát Phổ Hiền đi ngang qua, nơi đó có sự chuyển động rung động, nở hoa và trỗi nhạc : đây là biểu tượng về lộ trình giải thoát mà hành giả sẽ đi qua. Lộ trình đó đầy nhạc và hoa giải thoát khổ. Hoa giải thoát mà hành giả sẽ đi qua. Lộ trình đó đầy nhạc và hoa giải thoát khổ. Hoa giải sẽ nở rộ và nhạc giải thoát sẽ trỗi lên trong từng bước đi tu tập của hành giả. Lộ trình của nhạc và hoa ấy có thể được biểu đồ hóa như sau :
Tinh tấn – Tín – Hỷ - Kinh an – Định – Xả - giải thoát  – Tri kiến giải thoát.
Cũng có thể hình dung Bồ tát Văn Thù là tượng trưng cho Tuệ uẩn, và Phổ Hiền là Thiền định như là sức mạnh của Bồ tát, sức mạnh như một cỗ xe lớn có thể chở nhiều căn cơ chúng sinh đi vào giải thoát.
5. Nhiễu hữu bảy vòng quanh Thế Tôn của Bồ tát Phổ Hiền :
Truyền thống Phật giáo ghi lại rằng các đệ tử thường nhiễu hữu quanh Thế Tôn ba vòng để tỏ dấu tôn kính, quy ngưỡng. Tại đây, Bồ tát Phổ Hiền nhiễu hữu đến 7 vòng. Như vừa hình dung Bồ tát
Phổ Hiền là biểu trưng cho sức mạnh của Tinh tần và Định lực, nên 7 vòng nhiễu hữu phải là quyết tâm thành tựu 7 chi phần giác ngộ của con đường thực hành thiền định gọi là Thất giác chi (Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Định và Xả).
6. Bốn điều kiện để đắc Pháp hoa :
a. Được chư Phật che chở : nghĩa là có chánh kiến.
b. Trồng các căn giới đức : Là tu tập trì giới thanh tịnh
c. Đạt được chánh định : cần đắc từ Tứ thiền sắc định trở lên.
d. Phát tâm Bồ tát độ chúng sinh : là hành Lục độ Ba-la-mật.
Đó là Giới, Định, Tuệ được tu tập thuần thục với tâm đại từ đại bi.
7. Tinh thần khích lệ : Thế Tôn khích lệ thính chúng, hành giả từ mỗi phẩm kinh. Tại đây, Bồ tát Phổ Hiền hứa theo dõi hộ trì người đọc, tụng, biên chép, diễn nói và tu tập Pháp hoa. Tinh thần khích lệ hiện rõ rất là «  tâm lý giáo dục ».
8. Các thứ ma chướng : Có hai chướng ngại lớn ngăn cản giới thoát.
a. Chướng ngại ở bên ngoài (hay gọi là ngoại ma) : là sự cám dỗ của lục trần.
b. Chướng ngại bên trong (hay gọi là nội ma) :
là các vọng tâm như tham, sân, si, mạn, nghi, trạo cử, hôn trầm, phóng dật, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Nói tóm, đó là chướng ngại của chấp thủ 5 uẩn mà thường được gọi là  « ma ngũ ấm ».
9. Đức Thế Tôn kết thúc :
«  Này Phổ Hiền ! Bất cứ ai nếu thọ trì, đọc, tụng kinh Pháp hoa này, nhớ đúng, học hỏi và biên chép (ấn hành) kinh, phải xem người ấy là Ta, và nghe kinh này từ miệng Ta nói »
Anh văn :
«  Universal Sage ! Anyone who keeps, reads, and recties this Sùtra of the Lotus Flower of the wonderfull Law, memorizes it corretly, studies it, practices it, and copies it, should be considered to see me, and to hear this Sùtra from my mouth ».
                                (Ibid.p.309).
Người học hỏi, đọc, tụng, biên chép và tu tập Pháp hoa là học, hiểu và hành trì giáo lý Duyên Sinh, Vô ngã dẫn đến lìa bỏ tham ái, chấp thủ. Do học, hiểu và hành trì như thế nên liễu hội vô ngã tướng, thấy các tướng vốn là vô ngã. Thấy vô ngã tướng là ý nghĩa thấy thực tướng hay thấy Như Lai. Với trí tuệ ấy, vị ấy sẽ hiểu thực nghĩa của kinh Pháp hoa và khỏi tín tâm mạnh mẽ, khởi giác tâm mạnh mẽ, kết quả hệt như được nghe lời kinh chính từ Đức Thế Tôn dạy.
10. Thế Tôn xoa đầu, trùm y, phá chúng ma...
Nếu hành giả học, hiểu và hành thiền quán vô ngã, vô thường để ly tham ái, ly chấp trước thì trí tuệ sẽ được nuôi dưỡng. Đây là ý nghĩa được Thế Tôn xoa đầu và lấy y trùm cho (có trí tuệ và giải thoát).
Nếu trí tuệ ấy và giải thoát ấy được tiếp tục tu tập thì hành giả sẽ đi đến đích điểm giải thoát. Đây là ý nghĩa đi đến đạo tràng phá dẹp chúng ma.
"Khi Thế Tôn dạy kết thúc phẩm Phổ Hiền Khuyết Phát, thì có vô lượng Bồ tát được Đà-la-ni có thể nhớ rõ hằng trăm nghìn tỉ lời Phật dạy".
Anh văn :
  "When the Buddha expounded this Chapter of the Encouragement of Universal Sage, as many Bodhisattvas as there are sands in the River Ganges  obtained the dhàrani by which they could memorize hundreds of thousands of billions of repitions of teachings".
                                              (Ibid.p.310)
Khi một vị Bồ tát ly tham ái, chấp thủ sâu thì định sinh. Nhờ định này làm sụp đổ các phiền não mà ký ức trở nên trong sáng, trí tuệ trở nên trong sáng, và biết rằng những lời Thế Tôn chỉ dạy có thể được tóm rằng :
- Thực tướng "không tướng" không có trong ngôn ngữ, mà chỉ có ở tâm thể nhập.
- Thể nhập thực tướng là làm sụp đổ hoàn toàn các ngã tưởng.
Muốn làm sụp đổ các ngã tướng thì hành thiền quán vô thường, vô ngã để lìa ái, thủ và phát đại bi tâm độ sinh.
Dù Đức Thế Tôn có giảng đến hàng trăm nghìn tỉ lời thì nội dung cũng được tóm gọn vào 3 nét trên.
Nắm được 3 điểm ngắn gọn ấy là nắm được toàn bộ lời Phật dạy. Với hành giả có hành thiền sâu thì định nhớ được hằng trăm nghìn tỉ lời Thế Tôn dạy là đại định từ Tứ thiền sắc giới trở lên có thể có.
Mặt khác, phẩm Phổ Hiền Khuyết Phát, với lời Thế Tôn dạy vừa nêu trên, nhằm nhắc nhở hành giả phải tu tập vào đại định thì trí tuệ toàn giác mới xuất hiện.
Học hỏi và tu tập Diệu pháp là con đường quay trở về với chính mình và thực tại, nhận rõ ở đó không có mặt một ngã tướng nào để từ đó từ bỏ lòng tham ái, chấp thủ các ngã tướng.
Trên đường cắt lìa ái, thủ, hành giả nỗ lực an trú vào chánh niệm vô ngã cho đến thời điểm dập tắt hết tất cả lậu hoặc, phiền não, và phát khởi đại bi tâm hoằng pháp độ sinh cho đến ngày thể nhập pháo giới "không tánh".
Đấy là lúc mà đóa hoa của trí tuệ vô ngã rộ nở giữa thực tại hoàn toàn  "không tướng".
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »