Tuy thế qua cảnh thứ hai, và thứ ba của thời kinh, Thế Tôn vẫn còn nhiều điều để dạy trước khi từ biệt trần gian. Chúng ta hãy đi vào tìm hiểu cảnh thuyết giảng thứ hai.
XII. PHẨM ĐỀ-BÀ-ĐẠT-ĐA (phẩm thứ mười hai)
( Devadatta)
1. Trong phẩm kinh này, Thế Tôn thuật lại một mẩu đời của tiền thân Thế Tôn trong quá khứ xa xăm đã cầu Diệu pháp liên hoa như thế nào, như là một mẫu mực để chúng sinh sau ngày Thế Tôn nhập diệt học tập. Đồng thời Thế Tôn nhẹ nhàng giới thiệu Lục độ Ba-la-mật.
Theo tài liệu Nikàya, Tôn giả Đề-bà-đạt-đa ( Devadatta) là một hoàng thân, anh em họ với Thế Tôn. Tôn giả xuất gia sau ngày Thế Tôn trở lại thăm hoàng cung lần đầu, dưới sự hướng dẫn tu tập của Thế Tôn. Sau lần đầu nghe Thế Tôn nói Pháp tại hoàng cung, Tôn giả đắc Tứ sắc định, về sau Tôn giả phát triển thêm thần thông.
Do vì Tôn giả có tham vọng lãnh đạo Giáo hội Phật giáo, nhiều lần bạch xin Thế Tôn nhường ngôi vị giáo chủ cho Tôn giả, Thế Tôn từ chối. Sau đó Tôn giả thuyết phục được và qui y Thái tử A-xà-thế ( Ajatasattu), và lôi kéo
được năm trăm Tỷ kheo ly khai Giáo hội của Thế Tôn và vào một ngọ núi Kên Kên (núi này được vứt nhiều xác chết nên chim kên kên có mặt) lập Giáo hội riêng. Sau đó, Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên đến tại núi Kên Kên thuyết pháp, năm trăm vị tỷ kheo kia nghe và đắc Tu-đà-hoàn. Thấy rõ Pháp và giới luật, bàn trở về hầu Thế Tôn.
Còn lại một mình, Tôn gỉa Đề bà đạt đa cảm thấy ân hận vô cùng, quyết định đến cầu sám hối với Thế Tôn, nhưng chưa kịp thực hiện ý định Tôn giả đã thình lình qua đời.
Sự kiện chia rẽ Giáo hội kệ trên đã tạo ra một số khó khăn, tai tiếng. Nó là một niềm đau của Giáo hôi- Chính một lời dạy của Thế Tôn về sự kiện đó đã trở thành thành ngữ cho ngày sau: “ Sự tử trùng thực sư tử nhục”! – Nó còn là niềm đau cho đến ngày nay, mỗi lần chúng ta nhớ đến.
Nhưng, dưới cái nhìn của Pháp hoa- cái nhìn mong đưa đến thống nhất các bộ phái Phật giáo đương thời đang mãi tranh chấp nhau về ảnh hưởng và quan điểm giáo lý, cái nhìn làm tròn đẹp giáo lý rời khỏi các khía cạnh thị, phi, thiện, ác, toàn, bất toàn v.v… - Mọi chuyện đều có thể trở nên tốt đẹp, xua tan đám mây đen kia, cái đám mây cứ vần vũ trong ký ức của Giáo hội,
Còn hơn thế nữa đã thi hóa và đạo hóa một tâm sự ngậm ngùi.
Phẩm Đề-bà-đạt-đa trở thành một phẩm kinh của Pháp hoa, quả đã nói lên thật rõ ràng rằng tâm hướng giải thoát, thao thức xây dựng hưng thịnh Giáo hội, và tích cực truyền sâu vào xã hội loài người thông điệp cứu khổ của Thế Tôn.
2. Tư tưởng:
a. Bài học Pháp hoa nào mà tiền thân Thế Tôn đã học từ Tôn giả Đề bà?
Thế Tôn, trong phẩm 12, đã thuật lại một quãng đời quá khứ tu tập Diệu pháp, mà hầu như Thế Tôn chỉ thuật lại như một câu chuyện đời xưa. Bài học đại thừa trên là gì, qua sự việc hầu hạ tiên nhân 1.000 năm?
Nhà vua từ bỏ ngôi báu để hầu hạ tiên nhân suốt 1.000 năm chỉ vì một mục tiêu cầu Diệu pháp là một ý nghĩa bố thí, (cung kính), cúng dường tiên nhân). Pháp thí này hành cho đến mức thuần thục, tiêu tan hết tham ái, chấp ngã (đốt luôn cái ngã vua chúa, cao sang) thì pháp thí ấy là Ba-la-mật.
Nhà vua nhẫn chịu những khó khăn bị hành hạ, nhờ cậy, sai khiến 1.000 năm, với lòng ly tham và phá chấp trên là ý nghĩa Nhẫn nhục ba-la-mật.
Kiên cố thể hiện đúng nhu cầu của một người hầu hạ, không than thở, không trái ý tiên nhân với cùng một tinh thần hành trên gọi là Trì giới Ba-la-mật.
Suốt 1.000 năm giữ chặt lòng trên mục đích cầu Diệu pháp, tâm không dao động, với tinh thần phá ngã chấp trên là ý nghĩa Thiền định Ba-la-mật.
Tinh thần hầu hạ suốt 1.000 năm, không mệt mỏi là Tinh tấn Ba-la-mật.
Suốt 1.000 năm thực hành 5 độ trên chỉ để cầu Diệu pháp mà vẫn không nghe tiên nhân nói gì, nhưng lòng mong cầu và sự chuyên chú của nhà vua vào công việc hầu hạ sẽ giúp nhà vua tự thấy rõ các tướng vô thường, khổ đau, và cái ngã giả tạm của mình và của tiên nhân mà bừng sáng sự thật của các pháp (do nhờ phá ngã chấp). Đây là mở đầu của Trí tuệ Ba-la-mật.
Thật sự, qua 1.000 năm kia tiên nhân đã giúp nhà vua, kéo nhà vua ra khỏi thế giới ngã chấp rất nhiều, và tạo cơ hội để vua thực hành Lục độ của Bồ tát.
b. Về Tôn giả Đề-bà:
Trong thời gian kể trên Tôn giả Đề-bà cũng hành Lục độ:
Tiên nhân dạy pháp cho vua là nghĩa Bố thí độ.
Việc theo dõi để giúp nhà vua kiên nhẫn đi tới đều đặn là Trì giới độ.
Nhẫn chịu tiếng ác, tiếng xấu hành hạ vua là Nhẫn nhục độ.
Tinh cần trong vai trò dẫn đạo là Tinh tấn độ.
Bám sát mục tiêu Diệu pháp giúp nhà vua và cho tự thân là Thiền định độ.
Sau 1.000 năm hành như thế, các tham tưởng, sân tưởng, ngã tưởng chìm lặn, tiên nhân có điều kiện để thấy rõ thật tướng vô ngã của các pháp. Đây là Trí tuệ Ba-la-mật.
Dù hình thức bên ngoài của tiên nhân và nhà vua làm hai công việc khác nhau, nhưng cả hai vị đều thực hành Lục độ cả.
Một nghìn năm sau, hai vị tỏ ngộ, nhờ các vọng tâm bị diệt. Lúc bấy giờ trí tuệ vô ngã bừng cháy trong tâm thức hai vị: thành tựu đạo Bồ tát.
Mẩu chuyện trên nhìn qua cặp kính “ văn học-sân khấu” cũng tuyệt. Hình ảnh của nhà vua thì luôn luôn rực rỡ, trung chính, dễ được quý mến, ca ngợi. Hình ảnh tiên nhân thì “tà tà”, u ám, hắc ám dễ bị oán ghét, bị lên án. Nhưng đến hồi kết thúc thì thật là bi hùng! Và thật là cảm động!...
c. Ý nghĩa “ Nhất thừa”
Nhà vua đã xả bỏ ngai vàng, xả bỏ danh dự bản thân, bản ngã, xả bỏ tất cả những gì thuộc về thiện để được đạo giác ngộ: Ly tham hoàn toàn,
Ly thủ hoàn toàn và dẫn đến thời điểm “ trí tuệ như thật” xuất hiện, vượt khỏi các ngã tưởng. Đây là ý nghĩa nhất thừa: “ Không tướng”.
Tiên nhân xả bỏ danh dự tiên nhân của mình vượt qua các tư duy thị phi, so đo trong lòng, vô úy, can đảm để tự mình và giúp nhà vua xả sạch các ngã tướng, các chấp thủ. Cuối đường tâm lý ấy là trí tuệ vô ngã, vượt qua các khái niệm thiện, ác, thị phi, tốt xấu, được, mất, v.v…
Đây là nghĩa “ Nhất thừa”.
d. Về Bồ tát Trí Tích và Bồ tát Văn Thù:
Trí tích ( Accumulated wisdom): Trí tuệ thành tựu do công đức tu tập giải thoát.
Văn Thù là vị cổ Phật, biểu tượng của Trí tuệ Ba-la-mật.
Hình ảnh Bồ tát từ lòng biển vọt ra:
Như biểu dung chứa mọi loài thủy tộc, uế, tịnh v.v… mà vẫn như như bất động (bao giờ cũng là biển như thế), cũng thế, nguồn tâm dung chứa mọi công đức giải thoát. Chư tổ thường gọi nguồn tâm là tâm địa hay tâm hải (biển tâm).
Tất cả các Ba-la-mật của chư Bồ tát được thành tựu đều phát xuất từ chính nguồn tâm của mình. Ba-la-mật là ở tâm và do tâm: Đó là tâm rời xa khỏi hết thảy ngã tưởng. Ba-la-mật không thật sự
dính gì với các hành động, với các ngã tưởng cả. Nguồn tâm ấy mọi chúng sinh đều có: trần gian có, và thủy cung cũng có. Câu chuyện của nhị vị Bồ tát trên chuyển qua sự kiện Long nữ thành Phật như dưới đây:
e. Sự kiện Long nữ thành Phật:
Tôn giả Xá-lợi-phất, đại diện cho thính chúng chưa giác ngộ, nêu lên nghi vấn rằng: Thân nữ là cấu uế, không phải là pháp khí, có năm chướng ngại (Nikàya và A hàm cũng có đề cập đến năm chướng ngại của thân nữ: Không thể là Chánh Đẳng Giác, không thể là Đế Thích, Phạm Vương, Ma vương, Chuyển Luân Vương) thì làm sao có thể đắc Phật trí, thành Phật được?
Bồ tát Trí Tích thì phân vân: Việc tu tập để thành Phật phải trải qua vô lượng kiếp, nay chỉ thời gian không bao lâu làm sao Long nữ thành Phật được?
Hai Bồ tát đã thay mặt thính chúng còn vướng chấp thủ mà nêu ra hai thắc mắc đó. Vấn đề nam, nữ, cấu tịnh, nhanh, chậm, trẻ, già v.v… đều là các vấn đề của khái niệm mang đầy ngã tưởng. Do vì bị vướng mắc vào các ngã tưởng nên vướng mắc vào các ngã tướng mà hành giả không thể thấy được “ không tướng” của hết thảy pháp. Hết thảy pháp đã, đang và sẽ là “ không tướng”. Tất cả pháp giới là “ không tướng”.
thị hiện sự kiện Long nữ thành Phật một cách rất sống động như thế là Thế Tôn muốn phá đổ các ngã tưởng đang ngự trị trong tâm thức thính chúng chưa giác ngộ Phật trí. Hình ảnh Long nữ là một bé gái lại chóng giác ngộ Phật trí đã kích động vô cùng tâm thức của thính chúng, lay tỉnh, lay tỉnh mạnh tâm tư quý vị như thúc giục hãy thức dậy! Hãy chóng giác tỉnh!
Đây là một kỹ thuật giáo dục tâm lý thiện xảo mà Thế Tôn đã vận dụng.
Viên ngọc muôn vàn quý giá của Long nữ kính dâng lên Thế Tôn để Thế Tôn làm chứng cho sự kiện thành tựu Phật trí của Long nữ đắc Phật trí mà chưa là đức Phật chuyển pháp luân, vì thế trước khi ngồi tòa Bồ đề, theo truyền thống các pháp, Long nữ phải chuyển nữ thân thành nam thân). Sự kiện thành tựu Phật trí sở dĩ không khó mà nhanh chóng nữa, như long nữ nói, là vì mỗi người có sẵn khả năng đó ngay trong mình, tại đây và bây giờ. Có điều kiện thấy thì liền có.
Hình ảnh Long nữ thành Phật chỉ sau khoảnh khắc được giáo hóa có tác động đến thính chúng mạnh bằng triệu tiếng hét của Thiền sư đời sau, giúp thính chúng dễ bừng ngộ.
Tất cả sự kiện Long nữ đó là hình thức tuyên thuyết Diệu pháp “ Nhất thừa”, hiển bày thật
tướng “ không tướng” (nam tướng và nữ tướng là một và là “không tướng”).
g. Trong thời gian rất ngắn độ được vô số Bồ tát ngộ Phật trí:
Bồ tát Trí Tích ngạc nhiên vì sao trong một thời gian rất ngắn ở Long cung mà Bồ tát Văn Thù lại có thể giáo hóa được Bồ tát đông vô số, tất cả đều ngộ được Phật trí?
Sự xuất hiện của chư Bồ tát từ Long cung, và cả Long nữ, là câu trả lời hùng hồn nhất của Bồ tát Văn Thù về Diệu pháp.
Tất cả các thắc mắc về con người, về cảnh giới, về số lượng về thời gian đều vướng kẹt vào ngã tướng hết thảy. Chính những thắc mắc ấy là vật cản, ngăn che Diệu pháp. Những niệm tưởng ấy tưởng rằng thật tướng, thật trí là một ngã tướng cao cả và phi thường lắm, lạ lùng lắm đòi hỏi một công phu khó khăn nào đó. Nhưng thật trí, thật tướng vốn không phải là cái gì được làm ra, mà là cái gì đã có sẵn. Vấn đề giáo hóa của Bồ tát Văn Thù là giúp chỉ cho các Bồ tát thấy rõ vật cản để xô ngã nó xuống, thấy rõ cái ngăn che để loại bỏ nó đi. Cái vật cản, cái ngăn che thật tướng và thật trí chính là ái, thủ (các ngã tưởng). Nhận thức rõ như thế thì chỉ có một việc đơn giản là Bồ tát buông bỏ nó như là đặt một gánh nặng xuống. Thế là xong. Nhanh chóng