Đó là nội dung của giáo lý căn bản của Phật giáo truyền thống kiết tập ở Nikàya và A hàm.
Vị sứ giả cần kiểm soát thân, ý, khẩu, giữ gìn tư cách thế nào để tạo dựng niềm tin cho đời cả hai mặt đạo hạnh và trí tuệ của mình.
Đây là mô hình của một vị tu sĩ hành đạo và truyền đạo tích cực để lại nhiều giá trị cho đời sau.
Nội dung của “ An Lạc Hạnh” ( sống an vui hạnh phúc) vốn là nội dung của Đạo đế trong Tứ thánh đế nhằm loại bỏ khổ đau, phiền não của mình và người từ mức độ tương đối đến triệt để.
XV. PHẨM TÙNG ĐỊA DÕNG XUẤT (phẩm thứ mười lăm)
( The appearance of Bodhisattvas from underground)
1. Khi chư tôn Tăng và tôn Ni phát nguyện qua các cảnh giới khác để xiển dương Pháp hoa thì Thế Tôn yên lặng nhận lời, nhưng khi đến lượt chư Bồ tát ở các phương trời khác phát nguyện đến hộ trì kinh Pháp hoa ở cõi Ta bà thì Thế Tôn không chấp thuận. Ngài dạy ở cõi Ta bà đã có vô lượng Bồ tát rồi. Thế là vô số Bồ tát từ lòng đất vụt hiện ra làm kinh ngạc Hội chúng. Tại đây là một cảnh khác Thế Tôn vận dụng diễn bày Diệu pháp cho những ai còn chưa giác ngộ Phật trí.
2. Tư tưởng
a. Chấp nhận cho chư Bồ tát ở cõi này hành Phật sự tại các cõi khác mà không chấp nhận đạo tâm của chư Bồ tát trong các phương khác đến hành Phật sự tại Ta-bà này lá ý nghĩa Thế Tôn dạy cho chúng sinh ý thức về tự lực giải thoát, đó là nhân tố quyết định giải thoát, nhân tố đó mọi người đều có đủ trong tâm mình, kể cả nhân tố Bồ tát cũng phải tự mình phát triển dựa vào trí tuệ như thật.
b. Hình ảnh chu Bồ tát từ lòng đất vụt ra là biểu tượng cho một sự thật rằng: tuệ giác giải thoát, hay tuệ giác tối thượng là phát xuất từ nguồn tâm của mỗi chúng sinh, có mặt trong tâm thức mỗi chúng sinh. Các công phu đọc, tụng, biên chép, ấn hành, diễn nói và tu tập Pháp hoa đều là công phu làm bung vỡ tuệ giác ấy từ nguồn tâm. Tuệ giác ấy sẽ bung dậy như hình ảnh chư Bồ tát từ lòng đất vọt ra.
c. Có bốn đại Bồ tát dẫn đầu hàng Bồ tát của tâm thức là:
- Thượng Hạnh (Superior Practice): biểu tượng cho việc hành giải thoát ở cấp độ trí tuệ thật sâu.
- Vô biên hạnh (Limitless Practice): chỉ các hạnh Ba-la-mật tu tập dưới nhiều hình thức khác nhau.
- Tịnh hạnh ( Pure Practice): chỉ Phạm hạnh, hạnh Thanh văn; đó là hạnh ly dục, ly chấp thủ.
- An lập hạnh (Steadily-Established-Practice): chỉ người đã hàng phục vọng tưởng, dập tắt tất cả ngã tưởng.
d. Việc giáo hóa chư Bồ tát từ lòng đất:
Bồ tát Di Lặc vốn đã giác ngộ Phật trí, đã rõ công việc giáo hóa của Thế Tôn, nhưng biểu lộ sự kinh ngạc trước sự kiện “vọt mạnh ra từ lòng đất” của chư Đại Bồ tát chỉ là để gây sự chú ý cho hàng thính chúng hướng tâm về sự kiện này.
Bồ tát thắc mắc tại sao trong khoảng thời gian rất ngắn từ ngày thành đạo đến nay (chỉ hơn 40 năm trần thế) mà Thế Tôn lại có thể giáo dục thành tựu đến vô số đại Bồ tát như vậy, trong khi các Bồ tát phải cần đến một khoảng thời gian dài nhiều tiểu kiếp mới có thể tu tập thành tựu tuệ giác tối thượng?
- Hình ảnh “tòng địa dõng xuất” kia vốn tự nó là một bài pháp về thực tướng, về diệu dụng của thực tướng rồi. Đó là câu trả lời!
Bất cứ thắc mắc nào về thực tướng, tương tự như thắc mắc mà Bồ tát Di Lặc vừa nêu, đều là sản phẩm của ngã tưởng. Vướng vào ngã tưởng ấy thì thính chúng không thấy thực tướng hiển bày như chính nó đang là. Nếu sống nắm giữ cái khái niệm về thực tướng trong tâm tưởng mình, thì tâm sẽ khởi lên nghi vấn về sự khác biệt giữa thực tướng và khái niệm về thực tướng.
Thế Tôn chỉ xác nhận đó là sự việc như thật. Lời xác nhận ấy trước hình ảnh thực tướng: “ Tùng địa dõng xuất” như là sức mạnh có thể dập tắt hết thảy ngã tưởng về ngã tướng (tưởng thủ uẩn). Nếu ai giựt mình buông bỏ ngã tưởng mà nhìn sự kiện kia thì bừng ngộ ngay. Nếu còn nắm chặt ngã tưởng để nhìn sự kiện thì thắc mắc còn trỗi dậy.
Phải chăng do vì tự tính của đất, Bồ tát … và hết thảy pháp là vô tự tánh nên chúng tự tại dung nhiếp nhau? Phải chăng thời gian là vô tự tánh nên 40 năm trân thế không ngắn hơn vô lượng kiếp của Bồ tát? Phải chăng các vọng tâm là vô tự tánh nên tự chúng đã là pháp tính, nếu tâm người nhìn không vướng vào ngã tưởng?
Thấy được lẽ đó thì liền ngộ thực tướng và biết rõ con đường thể nhập thực tướng, và có thể tức thì thể nhập thực tướng.
Vì thế mà Đức Thế Tôn dạy Bồ tát Di Lặc rằng:
- Thời gian chư vị Bồ tát kia đảnh lễ và xưng tán chư Phật non nửa ngày trần gian, nhưng thực sự đã trải qua hơn 40 tiểu kiếp. Và,
- Việc giới thiệu thành quả hóa độ vô số đại Bồ tát ở trên từ sau ngày Thế Tôn thành đạo là sự biểu hiện uy lực, thần thông và trí tuệ của Như Lai đó vậy.
Chỉ có một lằn ranh rất mỏng manh giữa ngã tưởng và chánh tưởng vô ngã (hay giác tưởng vô